TRƯƠNG VĂN BANG: CUỘC ĐỜI TỰA BẢN ANH HÙNG CA ĐẤT NAM BỘ
TRƯƠNG VĂN BANG: CUỘC ĐỜI TỰA BẢN ANH HÙNG CA ĐẤT NAM BỘ
1. Người thiếu niên và lý tưởng sớm rèn giũa
Câu chuyện bắt đầu từ làng Phước Lại, quận Cần Giuộc, tỉnh Chợ Lớn. Tại đây, vào ngày 15/5/1911, cậu bé Trương Văn Bang đã chào đời trong một gia đình giàu lòng yêu nước. Ngọn lửa cách mạng đã sớm nhen nhóm trong lòng người thiếu niên ấy: mới 13 tuổi, cậu đã theo dượng rể là chí sĩ Nguyễn An Ninh, rong đuổi khắp nơi làm liên lạc cho "Hội kín Nguyễn An Ninh".
Bước ngoặt lớn đến vào năm 1930, khi Trương Văn Bang được thầy giáo Hồ Văn Long giác ngộ và kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Chỉ vài tháng sau, vào tháng 8/1930, ông đã cùng đồng chí Nguyễn Văn Út đứng ra thành lập Quận ủy đầu tiên tại Cần Giuộc với vai trò Phó Bí thư.
2. Vững tay chèo giữa bão táp thực dân
Những năm 1931 - 1932 là thời điểm đầy thử thách. Khi ấy, ông đã là Bí thư Quận ủy Cần Giuộc kiêm Tỉnh ủy viên Chợ Lớn. Thực dân Pháp khủng bố điên cuồng, phong trào tạm lắng, các cấp ủy bị phá đi phá lại. Nhưng với tinh thần thép, Trương Văn Bang cùng các đồng chí còn lại vẫn âm thầm móc nối, bám trụ trong lòng dân để chờ ngày trỗi dậy.
Tháng 10/1932, sau khi Xứ ủy lâm thời và Thành ủy Sài Gòn bị đánh phá, Trương Văn Bang nhận trọng trách Bí thư Tỉnh ủy Chợ Lớn, rồi phụ trách tổ chức Thành ủy Sài Gòn - Chợ Lớn. Đến tháng 5/1933, ông chính thức làm Bí thư Xứ ủy lâm thời Nam Kỳ kiêm Bí thư Thành ủy Sài Gòn - Chợ Lớn. Tuy nhiên, đến tháng 2/1934, ông chẳng may sa vào tay giặc.
3. Lao tù và bản lĩnh kiên trung
Thực dân Pháp đày ông ra Côn Đảo với bản án 5 năm. Năm 1936, nhờ phong trào Mặt trận Bình dân, ông được tự do nhưng bị buộc phải "biệt xứ". Vừa về đất liền, ông lập tức lao vào hoạt động, vận động thành lập Tỉnh ủy lâm thời Thủ Dầu Một và đối phó với sự đàn áp phong trào Đại hội Đông Dương.
Từ năm 1937 đến 1939, ông giữ chức Bí thư Liên Tỉnh ủy Biên Hòa - Bà Rịa. Đến năm 1941, do có người khai báo, ông lại bị bắt tại Sài Gòn. Suốt 18 ngày đêm bị tra tấn dã man tại bót Catinat, ông không nửa lời khai báo. Địch bất lực đày ông đi Căng Tà Lài rồi đến Bà Rá. Tại đây, ông vẫn kiên cường đấu tranh để bảo vệ quan điểm đúng đắn của Đảng trước các nhóm đối lập.
4. Nén đau thương, quyết tâm giành độc lập
Sau ngày Nhật đảo chính Pháp (9/3/1945), Trương Văn Bang vượt ngục trở về quê nhà. Đớn đau thay, đúng lúc này, bom Mỹ ném xuống Sài Gòn đã cướp đi sinh mạng của người mẹ cùng 10 người thân trong gia đình ông. Gạt nước mắt, ông nén đau thương để lo việc nước, tiếp tục giữ chức Bí thư Quận ủy Cần Giuộc.
Trong Cách mạng Tháng Tám, với tư cách thành viên Ban Chỉ đạo khởi nghĩa tỉnh Chợ Lớn, ông trực tiếp chỉ huy lực lượng tại Cần Giuộc và Cần Đước. Ngày 24/8, ông cùng các đồng chí chỉ huy bao vây dinh quận, buộc quân địch hạ súng đầu hàng chính quyền cách mạng.
5. Vị chỉ huy quân sự tài ba
Sau khởi nghĩa, ông lần lượt giữ các chức vụ: Chủ tịch UBND lâm thời, Chỉ huy trưởng quân sự quận Cần Giuộc, rồi Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 922. Năm 1947, đơn vị của ông đổi tên thành Tiểu đoàn Nguyễn An Ninh thuộc Trung đoàn 308. Trên cương vị Trung đoàn phó kiêm Tiểu đoàn trưởng, ông đã chỉ huy nhiều trận đánh vang dội, tiêu biểu là trận Láng Le - Bàu Cò lịch sử vào tháng 4/1948.
Trong những năm kháng chiến gian khổ (1947 - 1948), ông còn cùng đồng chí Trương Văn Nhâm mở các lớp huấn luyện chính trị cho chiến sĩ ngay giữa Rừng Sác đại ngàn. Sau đó, ông tiếp tục giữ nhiều trọng trách như Phân khu Ủy viên Phân khu Duyên Hải và cán bộ tổ chức Phân Liên Khu ủy miền Đông Nam Bộ.
6. Những năm tháng cuối đời và di sản
Năm 1954, ông tập kết ra Bắc, công tác tại Tổng cục Chính trị và sau đó là Chính ủy Nông trường Lam Sơn. Năm 1962, ông về Ban Nghiên cứu Lịch sử Quân đội với cấp hàm Thượng tá.
Ngày 31/12/1981, đồng chí Trương Văn Bang trút hơi thở cuối cùng tại TP. Hồ Chí Minh. Ông ra đi, để lại dấu ấn sâu đậm về một người cán bộ "khai sơn phá thạch" cho cách mạng miền Nam. Ngày nay, những con đường và trường học mang tên Trương Văn Bang tại Long An và TP. Hồ Chí Minh vẫn hằng ngày nhắc nhở thế hệ mai sau về tấm gương một người cộng sản kiên cường, bất khuất.



