TRƯƠNG VĂN BANG: NGỌN LỬA BẤT DIỆT TRÊN MẢNH ĐẤT CẦN GIUỘC ANH HÙNG
TRƯƠNG VĂN BANG: NGỌN LỬA BẤT DIỆT TRÊN MẢNH ĐẤT CẦN GIUỘC ANH HÙNG
Nếu ai đó hỏi về linh hồn của vùng đất Cần Giuộc, nơi những người nghĩa sĩ nông dân từng đi vào thơ văn Nguyễn Đình Chiểu với lòng quả cảm vô song, thì câu trả lời chắc chắn sẽ gọi tên Trương Văn Bang. Ông không chỉ kế thừa dòng máu hào kiệt của cha ông, mà còn nâng tầm nó lên thành bản lĩnh của một nhà cách mạng kiệt xuất trong thời đại Hồ Chí Minh.
Sinh năm 1911 tại xã Phước Lại, Cần Giuộc, Trương Văn Bang lớn lên giữa lúc tiếng súng kháng Pháp của nghĩa quân Trương Định, Nguyễn Trung Trực vẫn còn vang vọng trong ký ức của những bậc cao niên. Chứng kiến cảnh lầm than của người nông dân “cui cút làm ăn, toan lo nghèo khó”, người thanh niên họ Trương đã sớm nuôi dưỡng một ý chí sắt đá: Phải đập tan xiềng xích nô lệ.
Năm 1930, khi tiếng chuông cách mạng của Đảng vừa rung lên, ông đã đứng vào hàng ngũ những người cộng sản đầu tiên. Ở tuổi đôi mươi, trong khi bạn bè cùng trang lứa có thể chọn cuộc sống yên bình, Trương Văn Bang lại chọn con đường đầy rẫy chông gai, tù tội để tìm lại ánh sáng tự do cho dân tộc.
Lịch sử cách mạng miền Nam không bao giờ quên những năm tháng đen tối của thập niên 30 - 40, khi thực dân Pháp đàn áp tàn khốc. Trên cương vị là Bí thư Xứ ủy Nam Kỳ, Trương Văn Bang như một người thuyền trưởng vững tay chèo giữa cơn bão lớn. Ông đã bám trụ tại vùng Sài Gòn - Chợ Lớn, Gia Định và Long An, gây dựng cơ sở mật ngay trong lòng địch.
Ông có một khả năng kỳ diệu trong việc vận động quần chúng. Với ông, “dân là gốc”. Chính niềm tin tuyệt đối vào sức mạnh của nhân dân đã giúp ông nhiều lần thoát khỏi sự truy quét gắt gao của kẻ thù. Hình ảnh vị lãnh đạo cao cấp của Đảng sẵn sàng mặc áo bà ba, lội ruộng, ăn cơm gạo lứt cùng bà con đã trở thành một biểu tượng sống động về sự gắn kết máu thịt giữa Đảng và Dân.
Khi cuộc kháng chiến chống Mỹ bước vào giai đoạn khốc liệt nhất, Trương Văn Bang tiếp tục cống hiến trí tuệ chỉ huy của mình. Ông là người đặt nền móng cho việc xây dựng lực lượng vũ trang địa phương tại Long An, góp phần hình thành nên những đơn vị đặc công mưu lược, những vành đai diệt Mỹ khiến quân viễn chinh Hoa Kỳ phải khiếp sợ.
Tầm vóc của ông không chỉ nằm ở những chiến công quân sự trực tiếp, mà còn ở tư duy chiến lược. Ông hiểu rõ địa thế sông ngòi chằng chịt của Cần Giuộc, hiểu rõ từng bờ kênh, gốc mắm, từ đó đề ra những lối đánh du kích linh hoạt: “lấy ít địch nhiều, lấy yếu thắng mạnh”. Dưới sự chỉ đạo mang tầm nhìn của ông, Long An đã trở thành “lá chắn thép” bảo vệ cửa ngõ phía Nam Sài Gòn.
Thân dẫu thác, danh còn vang mãi, Chí quật cường, rạng rỡ nước non.
Người ta nhớ về Anh hùng Trương Văn Bang không chỉ với vẻ uy nghiêm của một vị tướng, mà còn với sự bao dung của một người cha, người chú. Sau ngày hòa bình, ông trở về với đời thường bằng một tâm thế bình thản, không màng danh lợi. Ông luôn trăn trở làm sao để hàn gắn vết thương chiến tranh, làm sao để những gia đình có công với cách mạng tại quê hương Cần Giuộc có được cuộc sống ấm no hơn.
Sự khiêm nhường và đức hy sinh của ông đã trở thành bài học đạo đức vô giá cho các thế hệ cán bộ sau này. Ông sống sạch trong, chiến đấu quả cảm và ra đi trong niềm tiếc thương vô hạn của nhân dân vào năm 1981.
Ngày nay, khi đi dọc vùng đất hạ Cần Giuộc, nghe sóng vỗ rì rào từ cửa sông Soài Rạp, ta như thấy bóng hình của ông vẫn còn đâu đó. Tên của ông “Trương Văn Bang”,không chỉ được khắc trên bảng vàng danh dự của Tổ quốc, mà còn khắc sâu trong lòng người dân Long An.
Ngôi trường được đặt theo tên ông ở ngã ba Cần Giuộc
Ông là minh chứng sống động nhất cho chân lý: Một con người bình thường, nếu có lý tưởng cao cả và lòng yêu nước nồng nàn, sẽ trở thành phi thường. Cuộc đời ông mãi là ngọn lửa sưởi ấm truyền thống “Trung dũng kiên cường”, tiếp thêm sức mạnh cho tuổi trẻ hôm nay vững bước trên con đường xây dựng quê hương giàu đẹp.



