TRUY DIỆT ĐỊCH CHẠY SANG LÀO
Đoạn trích khép lại bản anh hùng ca Điện Biên Phủ bằng cuộc truy kích thần tốc từ đêm mùng 7 đến trưa mùng 8 tháng 5 năm 1954 của Đại đội 19, Trung đoàn 57. Trong bối cảnh quân địch tại Hồng Cúm tìm cách rút chạy sang Thượng Lào, các chiến sĩ ta đã vượt qua mệt mỏi, băng rừng lội suối để bắt gọn tiểu đoàn Lê dương số 3 với 108 tù binh, đảm bảo thắng lợi trọn vẹn cho chiến dịch. Bên cạnh niềm tự hào về tư thế người chiến thắng đầy nhân đạo, tác giả còn cung cấp những cứ liệu lịch sử đau thương về
Nửa thế kỷ đã qua. Những kỷ niệm một thời máu lửa, những tình cảm sâu đậm, tình đồng chí, đồng đội còn đọng lại khá nhiều trên các trang sách, báo, phim, ảnh, nhưng một số lớn sẽ mai một cùng với sự ra đi của thế hệ chúng tôi. Cuộc sống không dừng mà tiếp tục phát triển. Ôn lại những kỷ niệm chiến đấu cũ để sống tốt hơn nhưng không ngồi đó mà gặm nhấm. Lẽ đời vốn vậy là phải vậy. Nhưng nếu còn có chút băn khoăn, dù nhỏ, về một sự kiện nào đó chưa được ghi chép đầy đủ thì chúng tôi phải có trách nhiệm kể lại. Đó là trận truy kích cuối cùng đêm mùng 7 tháng 5 năm 1954 kéo dài đến trưa ngày mùng 8 tháng 5 năm ấy. Một cuộc đuổi bắt kẻ địch đang hốt hoảng trốn chạy, chẳng có gì ác liệt, nhưng có thể là một cứ liệu cần thiết bổ sung cho cuốn lịch sử quân đội ta nói chung, của Trung đoàn 57 chúng tôi nói riêng, khép lại thật đẹp 196 ngày đêm mưa rừng cơm vắt... (nếu tính từ ngày xuất phát ở Thanh Hóa).
Sau này về hưu, rảnh rồi, có dịp đọc lại Hồi ức “Điện Biên Phủ điểm hẹn lịch sử” của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, tôi thấy nổi lên một vấn đề: Đó là nỗi lo của Bộ chỉ huy chiến dịch khi ra lệnh cho các đơn vị: “...Bao vây thật chặt, không để cho Đờ-cát hoặc bất cứ một tên địch nào chạy thoát”1. Nỗi lo này có từ khi tình báo của ta phát hiện chủ trương của Na-va muốn rút chạy về Thượng Lào với các cuộc hành quân Condor và Albatros. Rồi cả sau khi Mường Thanh đã đầu hàng, ta bắt sống tướng Đờ-cát cùng toàn thể Bộ chỉ huy Pháp ở Điện Biên Phủ, nỗi lo đó của đồng chí Tư lệnh Chiến dịch vẫn còn! “Với tôi trận đánh chưa kết thúc. Quân địch ở Hồng Cúm lúc này do Hà Nội trực tiếp chỉ huy. Nếu chúng chạy thoát một số sang Thượng Lào thì chiến thắng của ta sẽ không trọn vẹn.. ”.2
Từ nhận định trên đã có “Lệnh cho đơn vị phụ trách Hồng Cúm áp sát gọi hàng, tiêu diệt nếu ngoan cố, đồng thời chuẩn bị các đơn vị truy kích”. Đó là chuyện của cấp trên, còn các đơn vị chiến đấu chúng tôi, thì đã sẵn sàng chờ tín hiệu lên đường...
18 giờ, lệnh truy kích của Bộ Chỉ huy chiến dịch ban ra, ngoài Trung đoàn 57 hình như còn có Trung đoàn một bộ phận của Đại đoàn bạn. Riêng Tiểu đoàn 265 do vị trí chiến đấu còn nằm trên hướng địch rút chạy nên được giao nhiệm vụ đầu tiên: “Nhanh chóng vượt lên trước địch, chặn chúng lại, tiêu diệt và bắt sống toàn bộ”.
Toàn đơn vị xuất phát, để lại đằng sau tiếng rít ‘Vui tươi” của lựu pháo ta từ Pu Hồng Mèo cấp tập mãnh liệt vào trung tâm Hồng Cúm cùng với tiếng gọi nhau tìm giặc của các đơn vị bạn trên cánh đồng rộng lớn với hàng trăm ánh đuốc rực cả một góc trời.
Đại đội 19 chạy đầu tiên. Đến một ngã ba con đường chia thành hai hướng trung đoàn trưởng Nguyễn Cận đã chờ sẵn ở đó. Trong tranh tối tranh sáng anh đã nhìn thấy tôi:
“C19 hả? Chạy theo đường này. Thời gian rất gấp. Trang bị thêm cho các cậu một bộ đàm để liên lạc thẳng với Trung đoàn. Ban chỉ huy tiểu đoàn có anh Cầm và anh Lâm Phúc đi với đại đội. Lên đường luôn chúc thắng lợi”.
Cuộc hành quân truy kích với hai ngày lương khô, chân đất, vũ khí đạn dược đầy đủ và trên thắt lưng có cuộn băng cá nhân và một cuộn dây trói tù binh (Vật bất ly thân, nhiều bận dở khóc dở cười vì thiếu nó)...
... 5 tiếng đồng hồ sau, trinh sát phát hiện dấu vết của địch, những ba lô đầy ắp đồ hộp, bánh mì bỏ vương vãi... rồi những người phu khuân vác lợi dụng đêm tối trốn ở lại với ta. Họ cho biết địch đang chạy phía trước, uể oải vì đuối sức ... “Đúng đường rồi, bám được địch rồi” tin loan rất nhanh, mọi người mừng đến quên cả mình cũng đang mệt và đói. Lại tiếp tục chạy.
Con đường dần dần đi vào khu rừng rậm lá. Đến bên bờ một con suối rộng thì không còn nhận ra đường nữa! Trời tối đến mức không nhìn ra bạn chiến đấu đang đi ở phía trước nữa. Đang phân vân thì thêm hai người phu khuân vác nữa từ dưới suối chui lên: Bọn Tây đang nằm cả ra đất, ngay bên kia suối, không chịu đi nữa, chúng em lẻn ra và quay về với các anh... Lúc bấy giờ là 2 giờ sáng.
Sau khi xin ý kiến tiểu đoàn, chúng tôi cho bộ đội tạm nghỉ, ăn qua loa để lấy lại sức sau 7 tiếng đồng hồ vừa đi vừa chạy, đồng thời chờ trời hửng sáng.
Tờ mờ đất, toàn đơn vị đã sẵn sàng chờ lệnh, ai cũng có một nỗi lo chung “Không chặn bắt được giặc”. (Chỉ huy một đơn vị mà ý chí quyết thắng trăm người như một, quả thật là hạnh phúc).
5 giờ sáng trinh sát đã nhận ra con đường! Nó không mất hút mà đi ngầm qua suối. Toàn đại đội triển khai chiến đấu, dàn đội hình hàng ngang vượt suối. Tiếng kêu gọi đầu hàng vang sau khi mười quả đạn cối bắn thị uy vừa chấm dứt.
Bước lên bờ, một tên địch cao lớn chạy tới, hai tay vẫy lia lịa một mảnh vải trắng: “Ông đại úy chết, sợ súng cối lắm; không có chỉ huy, xin hàng”...
Ồ! Đông quá! Chúng ngồi túm tụm lại một chỗ, dễ có đến cả trăm tên! Mặt mũi bơ phờ, mắt nhìn dáo dác, súng đạn, khí tài, lương thực chất đầy ở một góc xa. Trên trời chiếc C47 vẫn lượn vòng khá rộng. Qua bộ đàm của ta, nghe thấy chúng đang gọi nhau: “Tănggô, Tănggô, có nghe tôi không? Có nghe tôi không?”. Tiếng gọi đều đều tuyệt vọng...
Thẩm vấn nhanh bọn tù binh: Đơn vị trốn chạy này là tiểu đoàn Lê dương số 3 (3/3REI), đếm được 71 tên, hầu hết thuộc Đại đội 10 và Đại đội 11. Riêng đại đội 12 đang chạy ở phía trước.
Tổ chức xong bộ phận ở lại canh giữ tù binh, thu dọn chiến lợi phẩm, chúng tôi chạy tiếp. Thành quả bước đầu động viên những đôi chân tay chạy hút theo mục tiêu phía trước. Được một đoạn đường lại chia hai ngả, phải chia lực lượng tỏa ra hai hướng. Khoảng 10 giờ sáng phát hiện địch đang ngồi nghỉ trên mỏm đồi cạnh đường, tiếng gọi hàng của ta lại vang lên. Chúng hốt hoảng nổ súng. Bắn nhau khoảng 5 phút, một mũi vu hồi của ta đã áp sát, bắt chúng hạ vũ khí. Tên ngoan cố bị tước khẩu súng ngắn sau cùng là một tên Trung úy. Theo lời hắn khai “Chúng thuộc đại đội 12 của tiểu đoàn 13 Lê dương, vì quá mệt mỏi nên đội hình rất lộn xộn. Chỉ dồn lại được 36 tên, một số nữa không rõ đi theo hướng nào.
Lúc này đã gần trưa, chúng tôi dừng lại, phái tổ trinh sát đi tiếp một đoạn nữa, cố tìm dấu vết của địch. 12 giờ, trinh sát quay về báo cáo: đường còn xa nhưng đã lâu lắm không có vết chân người. Cảm thấy yên tâm hơn, chúng tôi tổng hợp tình hình báo cáo về Trung đoàn xin chỉ thị mới.
“Tổng số tù binh bắt được, đợt 6 giờ sáng là 71 tên, đợt 10 giờ sáng là 31 tên; tổng cộng 107 tên, 5 máy bộ đàm và toàn bộ vũ khí cá nhân. Phiên hiệu bọn này đều thuộc D3/3REI. Địch chết một đại úy, hai lính bị thương. Bên ta có đồng chí Cầm - Chính trị viên tiểu đoàn bị thương nhẹ.
Đầu dây đằng kia, Chính ủy Quách Sỹ Kha cười thỏa mái: Tốt lắm! Các cậu đã gặp đúng Tiểu đoàn Lê dương số 3. Theo tên đại úy La Lăng - Chỉ huy trưởng Phân khu Hồng Cúm ra hàng đêm qua, Tiểu đoàn Lê dương này quân số khoảng 150 tên ra đi hồi 17 giờ 30 phút. Số còn lại các tiểu đoàn 2BTA + 3BTA cùng lực lượng pháo binh, xe tăng. Sau trận pháo kích dữ dội của ta, chúng chui sâu vào các công sự và đã ra hàng hồi 23 giờ đêm. Số lạc sang phía Tây Trang đã bị đại đội 18 bắt và báo về hồi 10 giờ sáng nay. Đại đội 19 đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Bình bầu khen thưởng sau. Dự kiến sẽ cử đại đội C19 đi hội quân toàn Mặt trận tổ chức nay mai mừng đại thắng. Bây giờ phải đảm bảo tốt việc áp giải tù binh và đưa đại đội trở về. Sẽ có bộ phận tiếp nhận tù binh ngay tại vị trí chiến đấu của đại đội.
Tôi thở phào một cái, lòng lâng lâng nhẹ nhõm. Đang giữa trưa mà rừng Lào vẫn mát lạnh! Sau bữa cơm chiều thịnh soạn với cá tươi đánh được ở suối và đồ hộp chiến lợi phẩm, quân ta hân hoan vì hoàn thành tốt nhiệm vụ, tù binh thì yên tâm với số phận của mình. Một bữa cơm thật ngon lành và thoải mái.
16 giờ ngày mùng 8 tháng 5 năm 1954, chúng tôi lên đường về Điện Biên Phủ. 18 giờ, thêm một tên địch trong rừng chui ra! Chính trị viên phó Tiểu đoàn Lâm Phúc quay sang tôi “Cậu có nhớ chuyện Lương Sơn Bạc không? Thủy Hử có 108 vị anh hùng còn giờ đây cũng lại “108 vị” tù binh! Một sự trùng hợp oái ăm.”
1 giờ sáng ngày mùng 9 tháng 5 năm 1954, sau khi bàn giao xong tù binh, đại đội trở về hầm chiến đấu cũ của mình. Một giấc ngủ say sau gần 25 tiếng đồng hồ vừa truy, vừa nghỉ, vừa ăn, vừa kích. Chỉ có ý chí chiến đấu được tôi luyện, nỗi mừng vui của chiến thắng quá vĩ đại đã thổi sức mạnh và sự dẻo dai vào đôi chân những người lính.
Có một chuyện lý thú xin kể thêm:
Trên đường đuổi giặc tôi vấp vào đuôi quả đạn cối 120 ly làm bật ngón móng chân cái. Trên bãi đất rộng cạnh suối, nơi tập kết của ta và tù binh, trong khi ngồi chờ cơm chiều, đề phòng nhiễm trùng, tôi mở ra băng lại. Một y tá tù binh nhanh nhẹn chạy tới, túi cứu thương đầy thuốc men. Anh ta là người Ý quê ở Milano, buồn vợ ngoại tình, lang thang sang Pháp chơi, thấy chiêu mộ lính Lê dương là xung phong luôn. Băng xong, anh ta đứng dậy chép miệng: “Nếu được trở về nước tôi sẽ quay về huấn luyện thể dục của mình...”. Nghe tâm tư của họ, tôi bàn với anh Lâm Phúc: Có lẽ cần giải thích thêm về chính sách tù binh để họ yên tâm.
Được lời, với các khẩu lệnh đội ngũ của Pháp đã nghe quen quen trong giờ tập thể dục hồi còn là học sinh thời nô lệ, tôi tập hợp tất cả tù binh lại. Lần đầu, (chắc cũng chẳng có lần thứ 2) tôi đã nói trước hàng quân mũi lõ, mắt xanh, tóc râu rậm rạp đứng im phăng phắc chỉnh tề, nghe giải thích về chính sách khoan hồng của quân đội ta. Mặt họ giãn ra, niềm u uất cũng tan biến và sau đó trong 8 tiếng đồng hồ hành quân ban đêm trở về Điện Biên, không một ai bỏ trốn.
Giờ đây, mỗi lần đến ngày 7 tháng 5, nhớ về những khẩu lệnh dõng dạc để chấn chỉnh đội ngũ cho lũ tù binh được tập hợp lại trong buổi chiều vàng trên biên giới Lào - Việt hôm ấy, tôi lại thấy vui vui, lẫn đôi chút tự hào về tư thế của một chiến sĩ Quân đội Nhân dân Việt Nam, đứng trước kẻ thù đã cởi giáp quy hàng để nói lên truyền thống nhân đạo của ta đối với tù, hàng binh đã có từ hàng ngàn năm trước rồi đến lần này, và chắc chắn chưa phải là lần cuối.
Ngày địch ném bom bản Long Nhai
Năm 2004, với sự ưu ái của Công ty Mai Linh và Việt Nam Airline đối với cựu chiến binh Điện Biên Phủ, chúng tôi được trở về thăm lại chiến trường xưa. Trên bia căm thù đặt ở vị trí bản Long Nhai cũ thấy có ghi ngày ném bom là ngày 25 tháng 4 năm 1954.
Thực ra chúng tôi không còn nhớ chính xác vì còn bộn bề biết bao công việc trong những ngày cuối cùng ở Điện Biên, về sau đọc “Điện Biên Phủ, điểm hẹn lịch sử” của Võ Đại tướng (Hữu Mai thể hiện) có một chi tiết về Đại đội 19 bắt gọn một tiểu đội lính Lê dương nhảy dù đêm 19 tháng 4 để bổ sung quân cho Hồng Cúm. Chi tiết này liên quan đến trận ném bom vào bản Long Nhai buổi chiều hôm đó. Cụ thể thế này:
Khoảng 14 giờ ngày 19 tháng 4, một máy bay ném bom 4 động cơ (từ công sự chúng tôi nhìn lên thấy rất rõ, về sau đọc các tài liệu địch mới biết đó là Privateer). Tiếng máy bay nghe rất nặng và bay chậm theo chiều Nam - Bắc hướng đường 41. Thông báo cho toàn đại đội đề phòng, chúng tôi tiếp tục quan sát. Quá Mường Thanh một đoạn, máy bay bay vòng lại, hạ độ cao trên không phận Hồng Cúm và bắt đầu thả bom. Những chùm bom đen trũi, rít như xé vải, rơi ngay sau lưng chúng tôi, trúng cả vào bản Long Nhai cách công sự chúng tôi không đầy 50 mét. Khói bụi dầy đặc trùm cả một góc trời. Kiểm tra đơn vị không ai việc gì. Sau khi để người ở lại trực chiến, toàn đơn vị đem bông băng cá nhân lao vào bản.
Một cảnh tượng thê lương chưa từng có! Hàng trăm xác chết không toàn thây, những người bị thương rên la thảm thiết, súc vật chăn nuôi cùng chịu số phận.
Hậu quả giải quyết rất vất vả kéo dài từ chiều đến sáng hôm sau với sự tham gia của nhiều đơn vị và cán bộ địa phương, dưới pháo sáng và đại bác cầm canh của địch!
Khoảng 24 giờ đêm, giữa những đống lửa chưa tàn hết từ các nhà sàn bị cháy lúc chiều, một máy bay địch sà xuống thả một tiểu đội ĐKZ 10 tên. Chúng nhầm tưởng lửa tín hiệu từ căn cứ của chúng ở mặt đất; toàn tiểu đội lọt cả vào chiến hào trung đội đồng chí Học, bị tóm gọn, trói kỹ và dẫn đi. Chúng tôi đã đến bản Long Nhai này để trinh sát tình hình chuẩn bị cho việc chọn địa điểm triển khai đào công sự bao vây Hồng Cúm từ ngày 15 tháng 3 (hồi ấy bản vẫn nằm trong sự kìm kẹp của địch. Dân số không chỉ của bản Long Nhai mà của 9 bản ven rừng được dồn về khống chế và làm phu phen tạp dịch cho chúng). Số thương vong vì thế rất cao lại vào buổi chiều khi dân đi sơ tán vào rừng trở về hơi sớm. Không đủ bông băng, phải xé những chiếc dù trắng ra băng tạm. Hai ngày sau vào bản vẫn thấy những cẳng chân, cẳng tay người bị lũ lợn đói gặm nham nhở! Từ đó đến 27 tháng 4, khi chúng tôi chuyển đi thay phiên cho đơn vị bạn chuẩn bị vào đợt 3, không còn đợt bom nào nữa. Dân bản chuyển đi vì các trận đã đến quá gần.
Ngày 19 tháng 4 hoặc ngày 25 tháng 4, không cách nhau là mấy nhưng về mặt sử liệu thì cần sự chính xác.
Chúng tôi xin phát hiện một cứ liệu nhỏ này với các nhà viết sử quân đội ta và cơ quan bảo tàng Điện Biên Phủ.



