Truyền thống các dân tộc xã Nậm Có
Sơ lược về các dân tộc xã Nậm Có
Câu chuyện thời hao lửa
Chuyện kể về “Truyền thống các dân tộc xã Nậm Có”
Nậm Có thời phong kiến thuộc phủ Quy Hoá. Khi thực dân Pháp xâm lược thuộc xã Cao Phạ, châu Văn Chấn. Năm 1955, châu Mù Cang Chải được thành lập, Nậm Có ngày nay khi đó thuộc xã Cao Phạ, châu Mù Cang Chải. Ngày 12/01/1959, xã Cao Phạ chia thành 2 xã là Cao Phạ và Nậm Có. Năm 1962, tỉnh Nghĩa Lộ được thành lập, xã Nậm Có thuộc châu Mù Cang Chải, tỉnh Nghĩa Lộ. Năm 1976, xã Nậm Có thuộc huyện Mù Cang Chải, tỉnh Hoàng Liên Sơn. Năm 1991, tỉnh Hoàng Liên Sơn chia thành 2 tỉnh Yên Bái và Lào Cai, xã Nậm Có thuộc huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái.
Năm 2020, xã Nậm Có gồm các bản là: Có Mông, Có Thái, Tu San, Tà Ghênh, Thào Xa Chải, Lùng Cúng, Làng Giàng, Nậm Pẳng, Háng Cơ, Đá Đen, Mú Cái Hồ. Xã có số dân là 8.670 người, 1.590 hộ gồm 4 cộng đồng dân tộc chung sống là Mông, Thái, Tày, Kinh trong đó dân tộc Mông chiếm 83,6%; dân tộc Thái chiếm 11,6%; còn lại là dân tộc Kinh và Tày.
Người Mông ở Nậm Có thuộc 3 tộc người: Mông trắng (Mông Đơ), Mông hoa (Mông Lềnh) và Mông đen (Mông Đu) có nhiều nét độc đáo và giàu bản sắc, góp phần làm phong phú thêm cho nền văn hoá các dân tộc huyện Mù Cang Chải.
Trước đây, người Mông thường ở trên những sườn núi cao, phương thức canh tác chủ yếu là làm nương. Thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước về định canh, định cư, người Mông xã Nậm Có đã canh tác lúa ruộng, nương định canh. Những thửa ruộng bậc thang là thành quả hội tụ các giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào Mông, kết tinh những kinh nghiệm lâu đời, sự sáng tạo thể hiện rõ nét từ việc lựa chọn vùng đất, tới quá trình khai khẩn công phu, hình thành nên phương thức canh tác nông nghiệp kết hợp nhuần nhuyễn giữa nương rẫy và ruộng nước.
Những công việc này được tiếp nối từ thế hệ này qua thế hệ khác, dần phát triển thành một vùng ruộng bậc thang như một tác phẩm nghệ thuật đặc sắc.
Người Mông có kỹ thuật rèn đúc khá cao, họ thường tự rèn, đúc lấy nông cụ như lưỡi cày, cuốc, dao... trong đó nổi tiếng là lưỡi cày có khả năng cày được đất khô có độ sâu từ 10 - 15 cm. Nhờ lưỡi cày to khỏe mọi rễ cây, cỏ tranh trên nương dốc đều bị cắt đứt rễ, phương thức canh tác dùng cày trên đất khô nên năng suất lương thực của người Mông tương đối cao và ổn định.
Họ ở nhà nền đất, nguyên liệu làm nhà bằng gỗ, lịa ván khá chắc, mái lợp truyền thống là ván thông chẻ mỏng. Để chống lại với gió to, khí hậu lạnh và sương núi ẩm thấp, ngôi nhà thường làm thấp, cột bằng loại gỗ tốt, cửa nhà chính gian giữa và ra vào 2 đầu nhà chỉ vừa 2 người tránh nhau.
Trang phục rất phong phú, nhất là trang phục của phụ nữ gồm: Váy, áo, thắt lưng, tạp dề, khăn, mũ đội đầu, xà cạp, với nhiều hoạ tiết, hoa văn sặc sỡ, độc đáo.
Phụ nữ dân tộc Mông rất chăm chỉ, chịu khó, ở đâu, trong hoàn cảnh nào, những lúc nhàn rỗi, họ tranh thủ tước sợi lanh hay thêu thùa trang phục. Nhìn vào bộ trang phục thấy được sự cần cù, chịu khó và khéo léo, tinh tế của người phụ nữ.
Kho tàng văn hóa dân gian của người Mông rất phong phú, các làn điệu dân ca, dân vũ đều diễn tả tế nhị, kín đáo, sâu lắng, ví von và được giải bày bằng các nhạc cụ đơn giản, gần gũi như: sáo, nhị, khèn môi, khèn lá, đặc biệt là khèn 6 ống được làm bằng cây trúc đã trở thành biểu tượng trong âm nhạc mang âm hưởng đặc trưng của đồng bào Mông.
Tín ngưỡng truyền thống của người Mông là thờ đa thần, họ thờ cúng tổ tiên là ông bà, cha mẹ và luôn coi đó là hình thức tín ngưỡng quan trọng để bảo tồn, giữ gìn văn hóa cội nguồn của dân tộc mình. Xã hội của người Mông được điều hành theo dòng họ khép kín, có tính luật lệ, quy ước riêng của mỗi dòng họ, được cộng đồng thừa nhận và tuân thủ nghiêm ngặt.
Người Thái đến Nậm Có từ khoảng những năm 1957 với 7 hộ với 29 khẩu từ Mường La, tỉnh Sơn La sang. Họ thấy đất đai màu mỡ, bằng phẳng, thuận lợi về nguồn nước nên dừng lại đây định cư lập bản mới. Người Thái ở Nậm Có là người Thái trắng sống tập trung chủ yếu ở bản Có Thái và Nậm Pẳng. Họ lấy sản xuất nông nghiệp làm nguồn sống chính ngoài ra còn làm các nghề phụ khác như đan lát, dệt vải, phục vụ nhu cầu cuộc sống. Trong bữa ăn hàng ngày thường có cơm nếp, cơm tẻ, măng, rau, cá, thịt... với khẩu vị ưa thích như chua, cay, đắng. Xôi nếp là món ăn truyền thống, được chế biến từ giống nếp tan đặc sản của địa phương.
Người Thái ở nhà sàn, nhà sàn là một nét đẹp văn hóa, biểu tượng đặc trưng cho sự hài hòa giữa con người và thiên nhiên, nhà sàn được làm hoàn toàn bằng gỗ với kiến trúc đòn, đầu sà, kèo, cột tinh xảo. Nhà có một tầng, có từ 3 đến 5 gian, được bố trí ngăn nắp chia thành nhiều gian. Trước kia người Thái thường buộc trâu, bò dưới gầm sàn, nay đã cải tiến không buộc trâu, bò dưới gầm sàn, gây mất vệ sinh như trước.
Trang phục dân tộc Thái phân biệt theo giới tính, thường phục với lễ phục đơn giản, duyên dáng và thanh lịch. Bộ y phục truyền thống được làm bằng sợi bông tự trồng, trải qua nhiều công đoạn: Dệt vải, nhuộm chàm, cắt, may,... mới tạo nên một bộ hoàn chỉnh. Trang phục thường kèm theo đồ trang sức như: vòng tay, vòng cổ, hoa tai, châm cài, xà tích. Trang phục của người phụ nữ Thái có nhiều điểm tương đồng nổi bật bản sắc văn hóa riêng của dân tộc Thái vùng Tây Bắc.
Phụ nữ mặc áo “cóm” đa sắc màu, ôm sát cơ thể, các bạc hình con bướm kết hợp với váy đen có thắt lưng màu xanh.
Người Kinh đến Nam Cô vào những thập niên 60 của thế kỷ XX, chủ yếu là thầy giáo vùng xuôi lên dạy học (thầy giáo Nguyễn Văn Sùng, thầy giáo Đỗ Văn Sơn quê tỉnh Hà Đông cũ nay là Hà Nội); sau đó là những người miền xuôi lên đây buôn bán rồi định cư lập nghiệp ở đây.
Không phân biệt nguồn gốc, cộng đồng dân tộc sinh sống ở Nam Cô luôn đoàn kết, gắn bó với nhau trong sản xuất cũng như trong đời sống sinh hoạt, đó là một trong những cội nguồn tạo nên sức mạnh nội lực của địa phương.


