Truyền thuyết Hai Bà Trưng
Truyền thuyết Hai Bà Trưng
Truyền thuyết Hai Bà Trưng

Đất Mê Linh là đất bản xứ của các vua Hùng, kéo dài trên hải bờ sông Hồng từ phía trên của đỉnh tam giác châu Việt Trì (Phú Thọ) cho đến gần Hà Nội và trải rộng từ vùng núi Ba Vì (Hà Tây) sang vùng núi Tam Đảo (Vĩnh Phúc), tương đương với các tỉnh lớn Phú Thọ, Vĩnh Phúc và Hà Tây hiện nay.
Sách Đại việt sử ký toàn thư chép: Trưng Trắc “Nguyên là họ Lạc, con gái của Lạc tướng huyện Chu Diên (vùng lưu vực sông Đáy và mở sang cả sông Hồng bao gồm khu vực Hà Tây, Hà Nội, Hà Nam hiện nay).
Hai Bà Trưng, Trưng Trắc và Trưng Nhị, hai chị em sinh đôi là con gái Lạc tướng Mê Linh, đất bản bộ xưa của vua Hùng. Chồng Bà Trưng Trắc là Thi Sách, con trai lạc tướng Chu Diên. Lãnh thổ Mê Linh và Chu Diên liền địa, hai gia đình lạc tướng là thông gia, thanh thế của họ càng thêm mạnh, uy danh càng lớn.
Những năm đầu công nguyên, Cổ Loa với vị trí là một kinh đô cổ của đất nước đã sớm trở thành trung tâm của cuộc nổi dậy, đấu tranh giành độc lập của nhân dân, trong cuộc tranh đấu biểu hiện nhất là cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng.
Chính sách cai trị hà khắc, tàn bạo của nhà Đông Hán càng thôi thúc vợ chồng Trưng Trắc -Thi Sách Hiệp kiếm tính kế nổi dậy chống nhà Hán. Theo truyền thuyết và sử cũ, Thái Thú Tô Định đã giết chết Thi Sách trước khi khởi nghĩa nổ ra. Hành vi bạo ngược của Tô Định càng làm cho Bà Trưng Trắc cùng em gái là Trưng Nhị càng quyết tâm tiến hành cuộc khởi nghĩa chiến đấu chính quyền đô hộ, rửa nợ nước, trả thù nhà, dựng lại cơ nghiệp xưa cho Vua Hùng
Cửa sông Hát (Hát Môn, huyện Phúc Thọ, tỉnh Hà Tây) là nơi khởi công cuộc phiêu lưu nghĩa và khởi nghĩa. Thời điểm nổ ra cuộc khởi nghĩa là niên hiệu Kiến Vũ thứ 16h năm 40 SCN.
Khởi nghĩa Hai Bà Trưng bày tức bị ảnh hưởng bởi các lạc tướng và nhân dân quận Giao Chỉ rồi toàn miền Nam Việt và Âu Lạc cũ. Xuất phát từ Hát Môn, Hai Bà đánh phá đô uý trị của giặc ở Hạ Lôi (Mê Linh) sau đó kéo quân từ Mê Linh xuống Tây Vu chiến sử dụng Cổ Loa, từ Cổ Loa, quân của Hai Bà sông Hoàng, sông Đuống sử dụng Luy Lâu (nay ở Lũng Khe, Thuận Thành, Bắc Ninh) là châu trị giá và quận trị của bọn đô hộ nhà Hán
Hoảng sợ trước khí thế ngút trời của nhân dân Âu Lạc , quân cờ không tranh cự ly chạy thân về nước. Thái thú Tô Định cũng lẻn trốn về nước. Chỉ trong vòng hai tháng, nghĩa quân Hai Bà Trưng giải phóng toàn bộ đất nước (65 quận, huyện, thành phố), giành quyền chủ về tay dân tộc.
Mùa hè năm Canh tý (40) Bà Trưng Trắc được tướng sĩ tôn lên làm vua, hiệu là Trưng Nữ Vương, đóng đô ở quê nhà là lý sở huyện Mê Linh cũ. Bà Trưng Nhị được phong là Bình khôi phục Công chúa. Các tướng sĩ khác đều được phong tước tước, tiền bạc, ruộng đất. Dân nước được khai thuế hai năm liền.
Mùa hè năm 42 (niên hiệu Kiến Vũ thứ 17), nhà Đông Hán phong Mã Viện làm trang phục Ba tướng quân, thống lĩnh quân sĩ sang đánh nước ta. Mùa hè năm 43 (niên hiệu Kiến Vũ thứ 18), quân Mã Viện tiến qua Long Biên, Tây Vu đến Lãng Bạc ở phía đông Cổ Loa. Hai Bà Trưng đã tiến quân từ Mê Linh qua Cổ Loa xuống Lãng phí Quân xâm lược. Mã Viện trải nghiệm là viên tướng dày đô kinh vĩ mạc, có số quân đông, thiện chiến, có lực lượng thủy quân phối hợp, lại rất thành hào chiến tập trung theo kiểu địa chiến. Nhưng vì tương quan lực lượng quá chênh lệch và sau một thời gian hồi sức trở lại, Mã Viện đã tăng dần để giành được thế chủ động. Trong khi đó Hai Bà trưng bày lực lượng vừa tập hợp, còn non trẻ và chưa có nhiều kinh nghiệm chiến đấu, không có khả năng cầm cự lâu dài với quân lược Đông Hán ở Lãng Bạc. Quân của Trưng Vương càng ngày càng mạnh tỏ rõ thế yếu, bị thiệt hại nặng. Có hàng người bị bắt và hy sinh trêm chiến lũy. Nếu cứ tiếp tục duy trì năng lượng ở Lãng Bạc thì quân đội Trưng Vương sẽ không thể giữ căn cứ này nổi và có thể sẽ bị tiêu diệt hoàn toàn.
Thấy không thể kéo dài thời gian cầm cự với Mã Viện được nữa. Trưng Trắc quyết định rút quân khỏi Lãng Bạc, lui về giữ thành Cổ Loa (Đông Anh, Hà Nội). Thành Cổ Loa hiển cố, thủy bộ liên hoàn đã được Trưng Vương sử dụng, khai thác tất cả lợi thế của nó để hy vọng chặn và tiêu diệt quân quân xâm lược đã giành được thế chủ động và đang ào ạt tiến về hướng kinh thành Mê Ling. Lúc này, chiến trường trải rộng khắp vùng Từ Sơn, Tiên Du, Đông Anh và nhất là khu vực xung quanh Cổ Loa. Nhiều tướng lĩnh vực Trưng Vương đã chiến đấu và hy sinh trong những ngày này như Đồng Bảng ở Gia Lộc (Đại Hùng, Đông Anh) Thủy Hải, Đăng Giang ở Đại Vĩ (Hà Vĩ, Liên Hà, Đông Anh)…
Tòa thành Cổ Loa cố gắng cũng không giúp T rưng Trắc bảo toàn sức mạnh trước sức mạnh tấn công ào ạt của Mã Viện, bà phải trình quân về kinh thành Mê Linh ở Hạ Lôi (Mê Linh, Vĩnh Phúc). Nhưng quân Đông Hán rất mạnh, nên Hai Bà Trưng phải lui quân về giữ các thành ở Hạ Lôi, Cự Triền. Mã Viện đem quân thủy, bộ ui theo. Cuộc cầm cự diễn ra ác liệt cuối cùng Hải Bà bị thương nặng và gieo mình xuống dòng sông Hát tự trẫm chứ không chịu sa vào tay giặc. Các tướng của Hai Bà phần nhiều thiết bị thương mại phải chạy về bản doanh thu của mình, có người đã hy sinh.
Cuộc khởi động thất bại. Sau ba năm, đất nước và nhân dân ta lại được phong kiến phương Bắc đô hộ. Nhưng khởi nghĩa Hai Bà Trưng mở đầu cho truyền thống đấu tranh chống các thế lực phương Bắc đô hộ nước ta. Là tấm gương để các tầng anh hùng hùng kiệt dân tộc kế tiếp nhau lên chiến ui ngoại chiến chiến thắng độc lập quyền dân tộc.



