Bài viết

TTTổng Tư lệnh, Người Anh Cả của QĐND Việt Nam, nhà chiến lược, nhà chỉ huy quân sự tài năng xuất chúng

Đại tướng Võ Nguyên Giáp là Đại tướng đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam, được phong quân hàm năm 1948 khi mới 37 tuổi, dù chưa qua trường lớp đào tạo quân sự chính quy. Với tư duy chiến lược sắc bén, bản lĩnh và tài năng xuất chúng, ông đã trực tiếp xây dựng, chỉ huy Quân đội nhân dân Việt Nam từ những ngày đầu thành lập và lập nên nhiều chiến công vang dội. Đại tướng chỉ huy thắng lợi các chiến dịch lớn như Việt Bắc 1947, Biên giới 1950, Điện Biên Phủ 1954 và góp phần quyết định vào Đại thắng mùa Xuân 1975. Đặc biệt, quyết định chuyển phương châm tác chiến tại Điện Biên Phủ từ **“đánh nhanh, thắng nhanh”** sang **“đánh chắc, tiến chắc”** thể hiện tầm nhìn chiến lược, bản lĩnh và tinh thần trách nhiệm của người Tổng Tư lệnh. Ông còn là người phát triển nghệ thuật quân sự Việt Nam, xây dựng đường lối chiến tranh nhân dân và củng cố mối quan hệ gắn bó giữa quân đội với nhân dân. Bên cạnh tài năng quân sự, Đại tướng để lại nhiều công trình lý luận có giá trị về quốc phòng, chiến tranh nhân dân và xây dựng quân đội. Cuộc đời và sự nghiệp của Đại tướng Võ Nguyên Giáp là biểu tượng của trí tuệ, lòng yêu nước, đức độ và tinh thần cống hiến trọn đời vì độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam.

06/08/2026Xã Tương Dương (Đoàn xã Tương Dương)4 lượt xem0 lượt chia sẻ
TTTổng Tư lệnh, Người Anh Cả của QĐND Việt Nam, nhà chiến lược, nhà chỉ huy quân sự tài năng xuất chúng

Đồng chí Võ Nguyên Giáp được phong quân hàm Đại tướng theo Sắc lệnh số 110/SL ngày 20-1-1948, trở thành Đại tướng đầu tiên của QĐND Việt Nam khi mới 37 tuổi. Điều đặc biệt là trước khi đảm nhận trọng trách của Đảng và nhân dân giao phó, Đại tướng Võ Nguyên Giáp là một nhà hoạt động chính trị, nhà báo, nhà giáo, chưa trải qua một học viện hay trường lớp quân sự nào như tướng lĩnh quân đội nhiều nước khác. Đại tướng đã trở thành nhân vật lịch sử lỗi lạc trên lĩnh vực quân sự trong phong trào giải phóng dân tộc Việt Nam và phong trào giải phóng các dân tộc bị áp bức trên thế giới chống chủ nghĩa thực dân ở thế kỷ 20. Con người Đại tướng là sự tổng hòa giữa tri thức uyên bác, tư duy toàn diện với phương pháp luận biện chứng, khoa học, cụ thể, không một chút gợn duy ý chí; giữa tầm nhìn xa rộng về chiến lược, chiến thuật với lý luận sâu sắc và thực tiễn nhạy bén, phong phú. Cùng với đó, ở Đại tướng còn là sự tổng hòa giữa nghệ thuật quân sự truyền thống của cha ông với tính ưu việt của tư tưởng quân sự thời đại Hồ Chí Minh và tinh hoa nghệ thuật quân sự thế giới.

Cuối năm 1944, đồng chí Võ Nguyên Giáp được lãnh tụ Hồ Chí Minh giao trọng trách tổ chức và chỉ đạo Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân. Chỉ với 34 đội viên và vài chục khẩu súng trường, súng kíp thô sơ, đồng chí đã chỉ huy đội tập kích diệt gọn hai đồn Phai Khắt và Nà Ngần, mở đầu truyền thống đánh thắng trận đầu của QĐND Việt Nam. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, trên cơ sở phân tích, đánh giá cục diện chiến trường, tương quan lực lượng giữa ta và địch, Đại tướng luôn thể hiện sự mưu lược, quyết đoán, đưa ra những quyết định kịp thời, chính xác.

Quán triệt sâu sắc tư tưởng, phương pháp luận Hồ Chí Minh, nhất là lời dạy của Người về “đạo làm tướng”, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã không ngừng học tập, rèn luyện để hội tụ đủ những đức tính “Trí, Dũng, Nhân, Tín, Liêm, Trung”. Những đức tính ấy, nhất là Trí và Dũng, bộc lộ trong Đại tướng từ rất sớm. Cuộc đấu trí, đấu lực quy mô lớn đầu tiên với quân đội nhà nghề được trang bị vũ khí kỹ thuật hiện đại trong Chiến dịch Việt Bắc Thu-Đông 1947 đã khẳng định tài thao lược xuất chúng của Đại tướng. Đặc biệt, Đại tướng đã đưa ra quyết định sáng suốt đổi mục tiêu tiến công mở đầu chiến dịch từ Cao Bằng sang Đông Khê, làm nên chiến thắng Biên giới Thu-Đông 1950.

Năm 1954, trên cương vị Chỉ huy trưởng Chiến dịch Điện Biên Phủ kiêm Bí thư Đảng ủy Mặt trận, bằng tư duy quân sự sắc sảo, bản lĩnh của người cầm quân, chấp hành tuyệt đối ý kiến chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đại tướng đã đưa ra một quyết định lịch sử, đó là thay đổi phương châm tác chiến từ “đánh nhanh, giải quyết nhanh” sang “đánh chắc, tiến chắc”. Nhờ quyết định bản lĩnh và sáng suốt, đầy trách nhiệm ấy, trận quyết chiến chiến lược Điện Biên Phủ đã giành được toàn thắng với sự hy sinh xương máu thấp nhất. Đó là một quyết định lịch sử ở một thời điểm lịch sử trong trận quyết chiến chiến lược.

Sau này, Đại tướng cho biết, đó là “một quyết định khó khăn nhất trong cuộc đời chỉ huy của mình”. Quyết định đó phản ánh một quá trình tư duy quân sự sắc sảo và xử lý thực tiễn linh hoạt, sáng tạo của Tư lệnh chiến dịch trên cơ sở thấu triệt sâu sắc tư tưởng “đánh chắc thắng” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bộ Chính trị và Tổng Quân ủy. Chiến thắng Điện Biên Phủ không chỉ buộc thực dân Pháp phải ký kết Hiệp định Geneva (tháng 7-1954), công nhận độc lập, chủ quyền của Việt Nam, mà còn là nguồn động viên, cổ vũ nhân loại tiến bộ, yêu chuộng hòa bình và chống đế quốc trên toàn thế giới.

Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Bộ Tổng Tư lệnh đã xây dựng nên một thế trận chiến lược hiểm hóc: Căng địch ra ở hai đầu chiến tuyến. Phía Bắc giữ địch ở mặt trận Huế-Đà Nẵng, phía Nam kìm địch ở Sài Gòn, làm cho địch bộc lộ sơ hở ở khu vực miền Trung, Tây Nguyên. Khi địch đã rơi vào thế trận do ta sắp đặt, quân ta bất ngờ tiến công “điểm huyệt” Buôn Ma Thuột, phá vỡ Tây Nguyên, tạo ra đột biến về chiến lược. Chớp thời cơ, ta giải phóng Huế, Đà Nẵng đẩy địch vào thế tan rã; sau đó tập trung lực lượng giải phóng Sài Gòn. 

Từ sự chỉ đạo sắc bén của Đại tướng, Tổng Tư lệnh, các cơ quan, đơn vị của QĐND Việt Nam tích cực chuẩn bị các kế hoạch chiến lược, tham mưu trúng, đúng để Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đề ra nhiều chủ trương, quyết định quan trọng, chính xác. Tài năng của Đại tướng còn thể hiện ở khả năng “nắm thời cơ, tạo thời cơ và chớp thời cơ” để chỉ đạo toàn quân đánh những đòn quyết định giành thắng lợi cuối cùng, hoàn thành sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Đại tướng luôn quán triệt sâu sắc tư tưởng truyền thống của dân tộc “lấy khoan thư sức dân làm kế sâu rễ bền gốc”. Thực tiễn cho thấy, Đại tướng là một trong những “kiến trúc sư” của đường lối chiến tranh nhân dân, kháng chiến toàn dân, toàn diện, dựa vào sức mình là chính-một nền chiến tranh nhân dân được xây dựng trên nền tảng “cả nước đồng lòng, toàn dân đánh giặc”.

Trong điều kiện luôn phải đương đầu với các thế lực ngoại xâm có tiềm lực kinh tế và quân sự vượt trội hơn hẳn, Việt Nam luôn trung thành với phương châm “lấy ít địch nhiều”. Có thể nói, với nhãn quan chiến lược về quân sự, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã kế thừa, phát triển nghệ thuật quân sự độc đáo của dân tộc, tinh hoa quân sự của thế giới, quán triệt tư tưởng quân sự và sự chỉ đạo sâu sát của Chủ tịch Hồ Chí Minh để làm nên những chiến thắng vẻ vang, làm rạng danh dân tộc Việt Nam anh hùng.

Không chỉ là một nhà quân sự thao lược, trực tiếp tổ chức, chỉ huy những trận đánh lớn, đánh bại thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, với tư duy và tài năng quân sự, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã góp phần xây dựng và phát triển nghệ thuật quân sự Việt Nam lên một tầm cao mới của thời đại mới, thời đại Hồ Chí Minh. Từ thực tiễn phong phú, tầm hiểu biết sâu rộng cả về chính trị, quân sự, Đại tướng đã đúc kết thành những tác phẩm lý luận về xây dựng LLVT nhân dân, về chiến tranh nhân dân, nghệ thuật quân sự Việt Nam, như: Đội quân giải phóng (1950); Chiến tranh giải phóng và Quân đội nhân dân, ba giai đoạn chiến lược (1950); Từ nhân dân mà ra (1964); Điện Biên Phủ (1964); Mấy vấn đề đường lối quân sự của Đảng (1970); Vũ trang quần chúng cách mạng, xây dựng Quân đội nhân dân (1972); Chiến tranh giải phóng dân tộc và chiến tranh bảo vệ Tổ quốc (1979); Tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường cách mạng Việt Nam (2000)... Đây là những tác phẩm có giá trị về lý luận và thực tiễn được tổng kết, đúc rút từ chính thực tiễn quá trình lãnh đạo, chỉ huy của một nhà quân sự kiệt xuất, có thể vận dụng trong công cuộc xây dựng quân đội, củng cố tiềm lực quân sự, quốc phòng để bảo vệ Tổ quốc hiện nay và mai sau.

Trên cương vị Tổng Tư lệnh, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp có công lớn cùng tập thể Quân ủy Trung ương đưa quan hệ quân-dân trở thành một trong những nét đẹp truyền thống quý báu của QĐND Việt Nam, tạo dựng hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ trong lòng nhân dân. Những tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng lực lượng QĐND từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu; xác định nhiệm vụ trọng tâm của quân đội: “Trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”... được Đại tướng áp dụng một cách nhuần nhuyễn. Từ đó, đã xây dựng QĐND Việt Nam có sức mạnh vô địch, đánh thắng mọi kẻ thù xâm lược, giành và giữ vững độc lập, tự do cho dân tộc.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn