TỪ ANH HÙNG ÁO VẢI ĐẾN VỊ HOÀNG ĐẾ BÁCH CHIẾN BÁCH THẮNG

TỪ ANH HÙNG ÁO VẢI ĐẾN VỊ HOÀNG ĐẾ BÁCH CHIẾN BÁCH THẮNG
Trong thiên lịch sử hào hùng dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, thế kỷ XVIII ghi dấu một giai đoạn bão táp nhưng đầy kiêu hãnh. Bước ra từ phong trào nông dân khởi nghĩa, Hoàng đế Quang Trung – Nguyễn Huệ xuất hiện như một thiên tài quân sự kiệt xuất, một vị anh hùng dân tộc vĩ đại đã viết nên bản anh hùng ca bất tử về tinh thần quật cường và chí khí bất khuất của con người Việt Nam.
Nguyễn Huệ sinh năm 1752 (hoặc 1753) tại thôn Kiên Mỹ, ấp Kiên Thành, huyện Hoài Nhơn, phủ Quy Nhơn (nay thuộc xã Bình Thành, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định). Ông có tên thuở nhỏ là Hồ Thơm, xuất thân trong gia đình có cha là Hồ Phi Phúc và mẹ là Nguyễn Thị Đông; tổ tiên vốn ở đất Nghệ An. Là người con thứ hai trong ba anh em Tây Sơn, Nguyễn Huệ sớm bộc lộ diện mạo và khí chất phi thường: đôi mắt sáng như chớp có thể nhìn rõ trong đêm, tiếng nói sang sảng như chuông và một tâm hồn quả cảm. Khi dựng cờ khởi nghĩa, ba anh em đổi sang họ mẹ là họ Nguyễn để thuận lòng nhân dân Đàng Trong. Từ vùng đất Tây Sơn Thượng đạo, ông cùng nghĩa quân phất cờ mang theo khẩu hiệu "Lấy của nhà giàu chia cho người nghèo", nhanh chóng quy tụ sức mạnh của nhân dân để làm nên nghiệp lớn.
Trong suốt 22 năm cống hiến trọn vẹn tuổi thanh xuân (từ năm 1771 đến 1792), Nguyễn Huệ đã trải qua một binh nghiệp bách chiến bách thắng, đánh Nam dẹp Bắc, lập nên những chiến công hiển hách làm chấn động lịch sử. Năm 1785, ở tuổi 32, ông chỉ huy trận Rạch Gầm – Xoài Mút, tiêu diệt hoàn toàn 5 vạn quân Xiêm xâm lược, đập tan âm mưu "cõng rắn cắn gà nhà" của tập đoàn Nguyễn Ánh. Ngay sau đó, năm 1786, ông dẫn đại binh tiến ra Bắc với ngọn cờ "Phò Lê diệt Trịnh", giải phóng Thuận Hóa và quét sạch chính quyền chúa Trịnh tồn tại hơn 200 năm, đặt nền móng cho việc thống nhất đất nước.
Đỉnh cao chói lọi nhất trong cuộc đời Quang Trung là chiến công đại phá quân Thanh vào mùa xuân Kỷ Dậu (1789). Đứng trước họa xâm lược của 29 vạn quân Mãn Thanh, ngày 22/12/1788 (25/11 âm lịch), ông lập đàn tế cáo trời đất tại Núi Bân (Huế), chính thức lên ngôi Hoàng đế, lấy niên hiệu Quang Trung rồi lập tức hội quân tiến ra Bắc. Bằng nghệ thuật quân sự thần tốc, bất ngờ và tinh thần tiến công mãnh liệt, vua Quang Trung đọc vang lời hịch thệ sư đầm đìa khí thế dân tộc: "Đánh cho để dài tóc / Đánh cho để đen răng / Đánh cho nó chích luân bất phản / Đánh cho nó phiến giáp bất hoàn / Đánh cho sử tri, nam quốc anh hùng chi hữu chủ". Chỉ trong vỏn vẹn 5 ngày đêm — từ đêm 30 Tết đến trưa mồng 5 Tết Kỷ Dậu, quân Tây Sơn đã quét sạch 29 vạn quân giặc, giải phóng hoàn toàn kinh thành Thăng Long. Hình ảnh vị vua áo vải cưỡi voi tiến vào Thăng Long giữa trưa mồng 5 Tết, chiếc áo bào xạm đen khói súng, đã trở thành biểu tượng kiêu hùng bất diệt của lòng yêu nước.
Không chỉ là một danh tướng bách chiến bách thắng, Quang Trung còn là một nhà chính trị, nhà cải cách anh minh. Sau khi quét sạch ngoại xâm, ông khẩn trương thực hiện các chính sách canh tân đất nước: ban Chiếu khuyến nông để phục hồi kinh tế, ban Chiếu lập học đề cao tri thức và chữ Nôm, đồng thời triển khai chính sách ngoại giao khôn khéo, tự chủ đối với nhà Thanh. Sự nghiệp vĩ đại của ông đã chấm dứt cuộc phân tranh Trịnh – Nguyễn kéo dài hàng thế kỷ, xóa bỏ ranh giới Đàng Trong – Đàng Ngoài và bảo vệ vững chắc nền độc lập dân tộc.
Dù đột ngột qua đời ở tuổi 39 khi nhiều dự định lớn lao còn dang dở, Hoàng đế Quang Trung – Nguyễn Huệ vẫn sống mãi trong lòng dân tộc. Đúng như những lời rút từ tâm khảm của Bắc Công chúa Lê Ngọc Hân trong tác phẩm "Ai tư vãn": "…Mà nay áo vải cờ đào / Giúp dân dựng nước xiết bao công trình…". Tên tuổi và sự nghiệp lẫy lừng của vị vua áo vải cờ đào sẽ mãi là ngọn đuốc soi đường, là niềm tự hào vô bờ bến của các thế hệ người Việt Nam hôm nay và mai sau.



