Người hoạt động cách mạng trước năm 1945

Từ bản tin chỉ viết bằng tiếng Pháp đến ngành khí tượng của người Việt

Đứng trên đồi Phù Liễn, Nguyễn Xiển nhận ra những bản dự báo thời tiết được làm ngay tại Việt Nam nhưng người dân dưới chân đồi không thể đọc. Từ nghịch lý đó, ông chuẩn bị nhân lực và thuật ngữ cho một ngành khí tượng thuộc về nhân dân.

Tây Ninh22/08/2026Chi Đoàn trường TH&THCS Nguyễn Du (Tuy Đức)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Năm 1937, Nguyễn Xiển bắt đầu làm việc tại Đài khí tượng Phù Liễn, đặt trên một ngọn đồi cao ở Kiến An, Hải Phòng. Từ nơi này có thể nhìn bao quát những cánh đồng, dòng sông và khu dân cư phía dưới. Nhưng có một nghịch lý khiến người thanh niên Việt Nam mới vào nghề không thể yên lòng: bản tin dự báo được làm ra trên đất Việt Nam, theo dõi thời tiết Việt Nam, nhưng lại chỉ viết bằng tiếng Pháp.

Dưới chân đồi, người nông dân vẫn nhìn mây, nghe gió và dựa vào kinh nghiệm truyền đời để tính ngày xuống giống hay đưa thuyền ra khơi. Phần lớn trong số họ không hề biết trên đỉnh Phù Liễn có một cơ quan đang đo nhiệt độ, khí áp, lượng mưa và hướng gió.

Nguyễn Xiển từng đặt câu hỏi: Không có lý gì người ta làm dự báo trên núi mà người dân Kiến An ở ngay dưới núi lại không được biết.

Câu hỏi ấy đã đi cùng ông trong bốn mươi năm làm nghề.

Nguyễn Xiển sinh năm 1907 tại Nghệ An. Thời trẻ, ông từng tham gia cuộc bãi khóa để tang nhà yêu nước Phan Châu Trinh nên bị đuổi học và cấm thi tú tài bản xứ. Không từ bỏ, ông tự học, đỗ đầu kỳ thi tú tài Tây tại Hà Nội rồi nhận học bổng sang Pháp.

Tại Đại học Toulouse, ông học toán, vật lý và cơ điện. Khi về nước năm 1932, Nguyễn Xiển dạy tại một số trường tư thục ở Hà Nội. Công việc bấp bênh, thu nhập không ổn định. Đến năm 1937, một giáo sư người Pháp giới thiệu ông sang ngành khí tượng vì cơ quan này cần người có kiến thức toán và vật lý để nâng cao nghiệp vụ tính toán.

Tiền lương khí tượng khi ấy hơn 230 đồng bạc mỗi tháng, chưa kể phụ cấp, cao khoảng ba lần lương giáo viên. Ban đầu, Nguyễn Xiển nhận công việc vì sinh kế. Nhưng chính công việc tưởng như tình cờ ấy lại trở thành phần đời mà sau này ông gọi là “mảnh đời hữu ích nhất”.

Sáu tháng đầu tại Phù Liễn, ông vừa học nghề vừa mở một lớp đào tạo khoảng năm quan trắc viên, chuẩn bị đưa họ ra Hoàng Sa thực tập và xây dựng trạm. Sau một thời gian công tác tại Sài Gòn, năm 1941, ông trở về và được giao phụ trách Đài khí tượng Phù Liễn.

Càng hiểu nghề, ông càng nhận rõ ngành khí tượng Đông Dương trước hết phục vụ bộ máy thuộc địa. Những báo cáo chuyên môn và bản tin dự báo được viết bằng tiếng Pháp; người Việt rất ít cơ hội đảm nhiệm công việc quản lý cũng như kỹ thuật quan trọng.

Nguyễn Xiển đề nghị đào tạo cán bộ khí tượng bằng tiếng Việt nhưng không được chấp thuận. Ông hiểu rằng muốn người Việt thực sự làm chủ ngành này, chỉ thay người đứng trong phòng quan trắc là chưa đủ. Cần có đội ngũ chuyên môn, sách giáo khoa và một hệ thống thuật ngữ khoa học bằng tiếng Việt.

Năm 1942, Nguyễn Xiển cùng Hoàng Xuân Hãn, Đặng Phúc Thông và một số trí thức sáng lập báo Khoa Học. Mục tiêu của họ là truyền bá kiến thức bằng tiếng Việt, chuẩn bị cho một nền giáo dục tương lai của đất nước.

Trên những trang báo ấy, các hiện tượng tưởng như chỉ thuộc phòng thí nghiệm được giải thích bằng ngôn ngữ gần gũi hơn. Người đọc có thể tìm hiểu về mưa, nắng, bão, lũ, khí hậu Đông Dương, nhật thực và nguyệt thực. Bên cạnh việc làm báo, Nguyễn Xiển còn tham gia dạy chữ Quốc ngữ ở Hải Phòng.

Trong khi bộ máy thuộc địa chưa muốn trao ngành khí tượng cho người Việt, ông tự chuẩn bị cho ngày người Việt có thể tiếp quản nó.

Ngày ấy đến sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945.

Chính phủ mới giao Nguyễn Xiển giữ chức Chủ tịch Ủy ban nhân dân Bắc Bộ, đồng thời phụ trách Nha khí tượng Việt Nam. Ông xem đây là thời điểm ngành khí tượng của một nước Việt Nam độc lập thực sự ra đời.

Nhưng nền độc lập vừa giành được đã phải đối diện với thiên tai nghiêm trọng. Trận lũ lịch sử năm 1945 làm nhiều đoạn đê trên các sông lớn bị vỡ. Trên cương vị Chủ tịch Ủy ban nhân dân Bắc Bộ, một trong những nhiệm vụ đầu tiên của Nguyễn Xiển là đôn đốc sửa chữa những đoạn đê quan trọng trên sông Thao, sông Lô và sông Hồng.

Những kiến thức về mưa, dòng chảy và thời tiết lúc này không còn nằm trong các bản tin tiếng Pháp đặt trên bàn làm việc. Chúng liên quan trực tiếp đến việc bảo vệ đồng ruộng và đời sống của hàng triệu người dân trong một đất nước đang phải chống đói, chống lũ và bảo vệ chính quyền non trẻ.

Khi cuộc kháng chiến chống Pháp lan rộng, phần lớn nhân viên quan trắc vào quân đội. Mạng lưới khí tượng vốn mỏng lại bị chia cắt. Nguyễn Xiển cùng các cơ quan rời thành phố lên chiến khu Việt Bắc.

Trong rừng sâu, giữa tiếng còi báo động và tiếng máy bay, ông vẫn tiếp tục biên soạn hệ thống danh từ khí tượng, dịch tài liệu nghiệp vụ sang tiếng Việt. Năm 1947, trong hoàn cảnh thiếu thốn, ông soạn hai giáo trình bậc đại học bằng tiếng Việt: Toán học đại cươngCơ học thuần lý.

Ông làm những công việc ấy vì tin rằng kháng chiến rồi sẽ thành công, và khi đất nước hòa bình sẽ cần ngay một đội ngũ khoa học đã được chuẩn bị.

Mùa hè năm 1954, miền Bắc được giải phóng nhưng ngành khí tượng gần như phải xây dựng lại từ đầu. Cán bộ ít, thiết bị thiếu, tài liệu chuyên môn không đủ. Nguyễn Xiển tuyển một số sinh viên khoa học cơ bản để đào tạo thành cán bộ khí tượng. Trong lớp quan trắc đầu tiên mở tại Hà Nội năm 1955, bài giảng đầu của ông có một nhan đề rất giản dị: “Bão là gì”.

Giản dị, bởi người học phải hiểu từ điều cơ bản nhất. Quan trọng, bởi bão đối với Việt Nam chưa bao giờ chỉ là một khái niệm trên trang sách.

Phương châm của Nguyễn Xiển là lấy nông nghiệp làm trọng điểm phục vụ. Ông chủ trương kết hợp phương pháp dự báo hiện đại với kinh nghiệm dân gian và quan sát sự thay đổi của cây cỏ, vật nuôi theo thời tiết. Những bản tin khí tượng phải giúp người dân lựa chọn thời vụ, bảo vệ mùa màng, tổ chức sản xuất và phòng tránh thiên tai.

Trong chiến tranh, khí tượng còn phục vụ hành quân, vận chuyển, tiếp tế và lựa chọn thời điểm mở chiến dịch. Các trạm quan trắc vừa duy trì đo đạc, truyền tín hiệu, vừa đối mặt với bom đạn.

Nguyễn Xiển làm việc trong ngành đến năm 1977, tròn bốn mươi năm kể từ ngày ông tới Đài Phù Liễn. Người dân Kiến An quen gọi đồi Phù Liễn là “đồi ông Xiển” và gọi ông bằng cái tên thân mật: “ông thiên văn”.

Năm 1997, ông qua đời. Cuộc đời ông từng trải qua khoảng ba mươi chức vụ trong bộ máy nhà nước và các tổ chức khoa học, nhưng điều ông trân trọng nhất vẫn là bốn mươi năm “trông gió, trông mây”.

Di sản của Nguyễn Xiển không chỉ nằm ở những máy đo hay trạm quan trắc. Đó còn là một thay đổi trong mục đích của khoa học. Từ những bản tin chỉ viết bằng tiếng Pháp và phục vụ bộ máy thuộc địa, khí tượng dần trở thành công cụ giúp người nông dân giữ mùa màng, người đi biển tránh bão và đất nước bảo vệ sinh mạng của nhân dân.

Câu hỏi Nguyễn Xiển đặt ra từ trên đồi Phù Liễn vì thế vẫn còn ý nghĩa: Một thành tựu khoa học sẽ có giá trị đến đâu nếu những người cần nó nhất lại không được hưởng lợi?

Ông đã dành bốn mươi năm để trả lời câu hỏi ấy.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn