Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

Từ bờ sông quê đến lệnh tổng động viên

Lào Cai10/12/2025Phàn Văn Bình (Đoàn xã Cốc Lầu)4 lượt xem0 lượt chia sẻ

Tôi sinh ngày 31 tháng 5 năm 1962, ở một làng ven biển huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định. Làng tôi nằm sát con sông nhỏ đổ ra biển, mùa gió nồm thì nước sông mặn chát, cánh đồng muối trắng đến lóa mắt. Cả tuổi thơ tôi gắn với mùi bùn non, mùi cá khô, tiếng sóng vỗ và tiếng loa phóng thanh trên nóc ủy ban xã.

Nhà tôi ở cuối xóm, sau vườn là một bãi lau sậy cao đến ngực. Cha tôi – mọi người trong làng quen gọi là bác Lộc – là thương binh chống Mỹ. Ông cụt mất một phần bàn chân trái, đi lại phải chống gậy. Mỗi lần trời trở gió, vết thương nhức buốt, ông lại ngồi bó gối bên bếp than, tay xoa bóp đoạn chân cụt mà trán lấm tấm mồ hôi.

Mẹ tôi thì người nhỏ thó, lưng còng vì gánh gạo, gánh muối từ khi còn con gái. Bà có thói quen sáng nào cũng dậy sớm trước cả tiếng gà, nhen bếp, nấu ấm nước chè xanh để cha nhấp vài ngụm cho ấm bụng rồi mới ra đồng. Căn nhà tranh vách đất của chúng tôi lúc nào cũng khói bếp ám vàng.

Những năm cuối thập niên 70 ấy, làng quê nghèo nhưng yên ả. Chiến tranh chống Mỹ đã kết thúc, người ta nói nhiều về hòa bình, thống nhất, về những chuyến tàu vào Nam ra Bắc không còn bom đạn. Tôi lên mười ba, mười bốn tuổi, việc lớn nhất là đi chăn trâu, mò cua bắt ốc, thỉnh thoảng phụ mẹ ra ruộng cấy lúa. Thỉnh thoảng ban tối, mấy đứa trai làng tụm lại sân đình đá bóng bằng quả bóng cao su đã nứt, mơ ước sau này được lên thành phố học hành, hoặc ra Bắc vào Nam coi tàu hỏa, tàu biển cho biết.

Cha vẫn hay nói với tôi:

– Chiến tranh qua rồi, đời con chắc đỡ vất vả hơn đời bố. Cố mà học, sau này biết chữ, khỏi phải bán sức một đời ngoài đồng.

Tôi gật đầu, nhưng thật lòng cũng chẳng hình dung được “học hành” sẽ dẫn mình đi đâu. Trường cấp hai cách nhà hơn ba cây số, đi bộ, mùa mưa đường lầy đến cổ chân. Tôi học được đến lớp tám thì phải ở nhà phụ việc nhiều hơn vì anh cả vào hợp tác xã đóng cọc, mẹ đau lưng, em gái còn nhỏ.

Những buổi tối quanh chiếc radio

Cả xóm chỉ có vài nhà có radio, nhưng nhà tôi là một trong số đó. Chiếc radio National cũ, vỏ gỗ đã xước, là kỷ vật cha mang về từ chiến trường miền Nam. Ông nâng niu nó lắm, tối nào cũng lau bụi rồi đặt ngay ngắn trên cái kệ gỗ do chính ông đóng.

Mỗi tối, ăn cơm xong, cha lại bật radio, cả nhà ngồi quanh. Giọng phát thanh viên vang lên từ tận Hà Nội, lúc thì đọc tin trong nước, lúc thì đọc tin thế giới, lúc lại phát chèo, cải lương, kịch nói. Tôi mê nhất là mấy chương trình kể chuyện chiến đấu. Nghe chuyện chiến sĩ giữ chốt, chuyện dân quân bắn rơi máy bay Mỹ, tôi cứ tưởng tượng cha ngày xưa cũng như thế, mặc áo lính, súng khoác vai, đi qua rừng Trường Sơn.

Có lần, tôi tò mò hỏi:

– Bố ơi, ngày xưa bố đánh nhau có sợ không?

Cha tôi ngừng rót nước chè, nhìn ra sân một lúc lâu mới trả lời:

– Sợ chứ. Thằng nào bảo không sợ là nói khoác. Nhưng chiến tranh nó là thế, mày sợ mà vẫn phải bước lên. Sợ mà vẫn làm đúng nhiệm vụ mới là gan.

Rồi ông xòe bàn tay chai sần ra, chỉ vào những vết sẹo trắng:

– Đây, mảnh đạn đấy. Hồi đó ở Quảng Trị, bom pháo suốt ngày. Nhiều thằng bạn bố nằm lại, có đứa còn chưa kịp biết vợ sinh con trai hay con gái.

Tôi im lặng. Mỗi lần cha kể chuyện chiến trường, mẹ lại ngồi im, tay xoay xoay chiếc khăn nâu, mắt nhìn xuống bếp lửa. Tôi biết mẹ sợ nghe nhắc lại quá khứ. Nhưng với tôi, những câu chuyện ấy giống như những trang sách, vừa xa xôi vừa gần gũi.

Tháng Hai 1979 – biên giới bốc cháy

Đầu năm 1979, không khí yên bình ấy bị xáo trộn đột ngột. Một sáng, vừa ăn cơm xong, cha bật radio như thường lệ thì giọng phát thanh viên bỗng trở nên gấp gáp: tin về việc quân Trung Quốc ồ ạt tấn công vào các tỉnh biên giới phía Bắc.

Tiếng cha buột miệng:

– Trời đất!

Ông vặn to volume. Những cái tên Cao Bằng, Lạng Sơn, Lào Cai, Hà Tuyên… liên tục được nhắc tới. Tôi ngồi nép bên cạnh, tim đập nhanh, chẳng hiểu hết nhưng cảm giác bất an lan khắp người.

Từ hôm ấy, loa phóng thanh trên nóc ủy ban xã suốt ngày đọc tin chiến sự, kêu gọi thanh niên tình nguyện lên đường bảo vệ biên giới. Làng tôi rộn lên những cuộc họp, những buổi phát động phong trào “hậu phương hướng về tiền tuyến”.

Tối nào cha cũng ngồi rất lâu bên radio. Có hôm ông lặng đi, rít một hơi thuốc lào sâu rồi ho sặc sụa. Mẹ nhìn cha, thở dài:

– Lại đánh nhau nữa rồi. Bao giờ cho hết cảnh này hả ông?

Cha đặt điếu cày xuống, giọng trầm:

– Còn giặc là còn chiến tranh, bà ạ. Hồi chống Mỹ cũng tưởng xong là xong. Ai ngờ giờ lại phải đánh tiếp để giữ biên giới.

Tôi nhìn đôi chân tập tễnh của cha, trong đầu thoáng qua câu hỏi: “Nếu bố không bị thương, liệu bố có lại ra trận nữa không?”. Nhưng chưa kịp hỏi, ông đã quay sang tôi:

– Cương, con lớn rồi, phải biết xem tin tức. Sau này đất nước có chuyện gì, thanh niên như con là lực lượng đầu tiên người ta gọi.

Lời cha nói khi ấy, tôi chỉ gật cho qua. Nhưng vài tháng sau, nó thành sự thật.

Những buổi họp thanh niên

Mùa hè năm ấy, bầu trời quê tôi không còn bình yên như trước. Tuy biên giới cách xa hàng trăm cây số, nhưng những đoàn xe chở bộ đội, chở hàng viện trợ vẫn nối đuôi nhau trên quốc lộ. Thanh niên trong xã được gọi đi dân công, bốc xếp hàng, tải gạo vào các ga tàu.

Bí thư Đoàn xã – anh Tính – về tận xóm vận động thanh niên tham gia dân quân tự vệ, tập bắn súng, đào hầm hào. Chiều nào tiếng còi cũng vang lên từ sân kho hợp tác. Đám chúng tôi – mười bảy, mười tám tuổi – vừa tò mò vừa háo hức, kéo nhau đi xem.

Hôm đầu tiên, anh Tính đứng trước hàng thanh niên, giọng sang sảng:

– Các đồng chí! Tổ quốc đang cần chúng ta. Ở biên giới, bộ đội đang ngày đêm chiến đấu. Ở hậu phương, thanh niên như chúng ta phải là lực lượng xung kích, sẵn sàng khi Tổ quốc gọi.

Đám bạn tôi – thằng Hào, thằng Biên, thằng Dũng – xì xào:

– Nghe oách nhỉ!
– Biết đâu vài tháng nữa mình cũng được mặc áo lính.

Tôi thì im lặng, lắng nghe từng câu. Có gì đó trong lòng như được khuấy lên, vừa sợ vừa tự hào.

Tối ấy, về nhà, tôi thưa với cha mẹ rằng xã gọi thanh niên đăng ký học bắn súng, tham gia dân quân. Mẹ lo lắng:

– Mới tí tuổi đầu, súng với ống gì. Ở nhà phụ bố mẹ làm ruộng đã đủ rồi.

Cha hút xong một điếu thuốc, đặt điếu cày xuống, chậm rãi:

– Nó lớn rồi, bà ạ. Học bắn súng chứ có phải đi chiến trường ngay đâu. Đất nước mình giờ còn chiến tranh, con trai phải biết cầm súng phòng thân.

Nghe cha nói vậy, mẹ chỉ thở dài, không nói thêm. Hôm sau, tôi chính thức ghi tên vào đội dân quân tự vệ của thôn.

Tập bắn và những ước mơ tuổi mười bảy

Những buổi chiều sau đó, chúng tôi ra bãi đất trống sau kho hợp tác để tập bắn. Súng K44, K50 cũ, nặng trĩu. Anh Tính và mấy chú bộ đội phục viên được huyện điều về hướng dẫn chúng tôi cách đứng, cách ngắm, cách bóp cò.

Lần đầu tiên cầm khẩu súng, tôi run tay thấy rõ. Mùi dầu súng, mùi gỗ cũ, mùi đất cát dưới chân hòa vào nhau lạ lùng. Bên cạnh, thằng Hào cười:

– Cương, mày cầm như ôm cái cuốc thế kia thì bắn trượt là cái chắc.

Tôi nạt lại cho đỡ run:

– Kệ tao! Rồi xem đạn tao lên bia thế nào.

Khi đến lượt, tôi nằm xuống, áp má vào báng súng, nhắm mắt lại một thoáng rồi mở ra, nhìn chằm chằm vào cái bia giấy trắng ở xa. Tiếng anh Tính vang lên phía sau:

– Thả lỏng vai! Hít sâu, nín thở rồi bóp cò thật từ từ!

Tôi làm y như vậy. Tiếng súng nổ nghe đùng một cái, vai tê đi vì giật. Khi ra xem bia, viên đạn của tôi trúng vào vòng tám. Thằng Hào vỗ lưng tôi:

– Khá đấy, tân binh!

Những buổi tập bắn, tập ném lựu đạn giả, tập bò dưới hàng rào dây thép gai mô phỏng khiến chúng tôi vừa mệt vừa thích thú. Thằng nào cũng mơ đến ngày được khoác bộ quân phục xanh mới tinh, đội mũ cối, chân đi dép cao su, vai vác súng. Làng quê nghèo, tụi tôi đâu có nhiều giấc mơ khác.

Trong đám thanh niên ấy, không chỉ có con trai. Có cả mấy cô gái Đoàn viên, trong đó có Lan – cô gái cùng lớp với tôi hồi cấp hai. Lan da ngăm, tóc tết bím, cười hay ngượng. Mỗi lần tập ném lựu đạn, cô hay nhăn mặt:

– Nặng quá, em ném chẳng được xa.

Tôi cười:

– Có ngày bọn anh nhờ tay các cô gái ném cho địch chạy cong đuôi thì biết!

Lan bĩu môi:

– Nói thì hay lắm. Đến lúc ra trận, chắc anh sợ còn hơn em.

Những lúc như thế, tôi đỏ mặt cãi lại, nhưng trong lòng lại thấy vui. Hình như trong khói súng giả ấy, còn có chút mơ mộng của tuổi mười bảy.

Quyết định nhập ngũ

Thời gian trôi nhanh. Cuối năm 1979, huyện nhận lệnh tuyển quân bổ sung cho lực lượng công an vũ trang làm nhiệm vụ bảo vệ biên giới. Danh sách thanh niên ưu tú từng tham gia dân quân, học bắn súng được ưu tiên gọi nhập ngũ trước.

Một buổi chiều, khi tôi đang cắt cỏ ngoài bờ mương, mẹ hớt hải chạy ra:

– Cương ơi! Cán bộ xã lên nhà kìa!

Tôi vội vã về. Trong nhà, anh Tính – bí thư Đoàn – cùng chú cán bộ quân sự xã đang ngồi uống nước với cha. Trên bàn là tập giấy tờ.

Vừa thấy tôi, anh Tính cười:

– Đồng chí Cương về rồi à? Hôm nay chúng tôi lên thông báo: trên phân về cho xã mình chỉ tiêu mấy thanh niên ưu tú lên đường vào lực lượng vũ trang bảo vệ biên giới. Em là một trong số đó.

Tôi đứng khựng lại, tim đập mạnh. Mẹ nhìn tôi, hai tay bóp chặt chiếc khăn. Cha nhấp ngụm nước chè, hỏi:

– Thế bao giờ đi, chú?

Chú cán bộ quân sự đáp:

– Dạ, nếu qua khám sức khỏe đạt thì tầm đầu tháng Mười Một sẽ giao quân. Cũng gấp lắm, trên đang cần bổ sung lực lượng ra biên giới Lào Cai, Lạng Sơn.

Tôi nuốt nước bọt, rồi bỗng cảm thấy lòng mình sáng rõ khó tả. Như thể những ngày tập bắn, những bài phát động, những tin chiến sự trên radio tất cả dồn lại thành một quyết định trước mắt.

– Cháu… đồng ý đi, chú ạ – tôi nói, giọng hơi run nhưng rõ ràng.

Mẹ giật mình:

– Cương!

Cha đặt tay lên tay mẹ, nhẹ nhàng:

– Nó lớn rồi, bà ạ. Đời tôi đánh Mỹ, đời nó giữ biên giới. Đó cũng là phúc của nhà mình.

Anh Tính nhìn tôi, gật đầu:

– Tốt. Xã tự hào vì em. Mai em ra ủy ban làm hồ sơ, rồi chuẩn bị đi khám sức khỏe ở huyện nhé.

Sau khi họ về, nhà tôi chìm trong im lặng. Mãi một lúc sau, mẹ mới nói, giọng nghẹn:

– Con đi rồi, bố mẹ còn mỗi đứa em gái ở nhà… Ở ngoài ấy, người ta bắn nhau thật chứ không như mấy lần tập đâu.

Tôi tiến lại gần, nắm tay mẹ:

– Con đi rồi con lại về mà. Bao nhiêu anh ở làng mình đi chống Mỹ, có người còn đi mấy năm cơ mà. Bây giờ đất nước mình độc lập, chắc cũng không ác liệt như trước đâu.

Cha khẽ gật:

– Không chủ quan được, nhưng con nói đúng một điều: đã là đàn ông thì phải dám đi. Chỉ xin con nhớ cho kỹ: giữ lấy mạng mình, giữ đồng đội, đừng làm điều gì hổ thẹn.

Đêm đó, tôi nằm trằn trọc, nghe tiếng sóng từ ngoài biển vọng vào, nghĩ về biên giới phía Bắc xa xôi, nơi tuyết trắng phủ, nơi có những cái tên mới nghe đã lạ: Lào Cai, Hà Tuyên, Cao Bằng… Tôi không biết chờ mình ở đó là gì, nhưng trong lòng nóng rực như có đốm lửa nhỏ.

Ngày khám sức khỏe

Buổi khám sức khỏe diễn ra ở trạm xá huyện. Thanh niên từ các xã kéo về đông như hội. Đứa nào cũng mặc bộ quần áo lành nhất, đi dép cao su đã rửa sạch, khăn mặt vắt trên vai.

Thằng Hào, thằng Biên cũng có tên trong danh sách. Trên đường đi, chúng tôi trêu nhau:

– Tao mà bị loại vì thấp cân chắc xấu hổ suốt đời.
– Lo gì! Ăn thêm bát cơm sáng là cân nặng tăng liền.

Ở trạm xá, cán bộ y tế đo chiều cao, cân nặng, khám mắt, khám tai, đo huyết áp, rồi bắt chúng tôi cởi trần cho bác sĩ nghe tim phổi. Một bác sĩ già đeo kính, sau khi nghe xong lồng ngực tôi, gật gù:

– Phổi tốt. Cháu làm việc nặng ngoài đồng quen rồi, lên núi chắc chịu được.

Đến cuối ngày, danh sách trúng tuyển được dán trước cửa phòng. Chúng tôi chen chúc đọc, hồi hộp như chờ điểm thi. Tên tôi nằm trong danh sách thứ hai: “Trần Văn Cương – xã Nghĩa Hưng – đủ tiêu chuẩn nhập ngũ vào lực lượng Công an vũ trang”.

Tôi ngoái nhìn sang, thấy mặt thằng Hào bí xị:

– Tao bị loại vì huyết áp thấp. Chắc phải chờ đợt sau.

Tôi vỗ vai nó:

– Ở nhà chăm bố mẹ, giữ làng cũng là chiến đấu mà. Tao đi rồi có gì tao viết thư về khoe, được chưa?

Nó cười méo xệch:

– Nhớ đấy, đừng quên.

Lan – cô gái thôn tôi – cũng có mặt ở đó vì tham gia tiếp sức cho đội y tế. Khi nghe tin tôi trúng tuyển, Lan nhìn tôi, mắt chớp chớp:

– Vậy là sắp thành bộ đội thật rồi ha?

Tôi gãi đầu:

– Chắc thế. Hôm nào lên biên giới, anh sẽ gửi quà xuống cho em.

– Quà gì? – Lan hỏi, giọng bông đùa.

– Một hòn đá biên cương – tôi đáp, bỗng thấy câu nói rất nghiêm túc.

Lan bật cười, nhưng trong mắt có chút gì đó khác lạ. Tôi quay đi, cảm thấy cổ họng khô.

Những ngày chuẩn bị lên đường

Từ khi có danh sách trúng tuyển, không khí trong nhà tôi thay đổi hẳn. Mẹ bắt đầu vá lại những bộ quần áo cũ để tôi mang theo. Bà gấp từng cái áo, cái quần cẩn thận, thi thoảng lại ngừng tay, nhìn tôi rồi quay mặt đi chỗ khác lau nước mắt.

Cha thì dặn dò mọi thứ: cách giữ sức khỏe, cách giữ gìn tài sản, cách quan hệ với đồng đội.

– Ra đơn vị, mày phải nhớ cái nết cần cù của người nhà quê. Việc gì khó nhất cũng xung phong làm, nhưng đừng có liều mạng. Thấy nguy hiểm thì phải bàn với đồng đội, không có tự ý.

Tối tối, hàng xóm, bà con trong họ đến chơi, vừa chúc mừng vừa động viên. Cụ từ ở đình làng còn làm lễ thắp hương, cầu mong các thanh niên lên đường khỏe mạnh, rồi quay lại bình yên.

Đoàn xã tổ chức một buổi liên hoan nhỏ cho mấy đứa sắp đi. Sân kho hợp tác treo cờ đỏ, loa phóng thanh phát bài “Năm anh em trên một chiếc xe tăng”, “Câu hò bên bến Hiền Lương”. Tôi đứng trong hàng quân, trên ngực cài bông hoa đỏ bằng vải, nghe lãnh đạo xã đọc diễn văn, dặn dò.

“Thanh niên Nghĩa Hưng chúng ta nối tiếp truyền thống cha anh, lên đường bảo vệ biên cương Tổ quốc…” – những câu chữ ấy, bây giờ nhớ lại đã mờ, nhưng cảm xúc thì vẫn rõ. Tôi thấy mình như cao lớn hơn, dù biết trong ba lô ngoài mấy bộ quần áo, chỉ có thêm vài chiếc bánh đa mẹ nướng, một túi lạc rang và lá thư của em gái.

Đêm trước ngày đi, cả nhà thức rất khuya. Mẹ ngồi bên tôi, cắt tỉa lại móng tay, móng chân, vừa làm vừa nói:

– Người ta bảo đi xa thì phải gọn gàng, kẻo tà ma nó bám. Con ra ngoài ấy nhớ ăn uống cho đều, đừng ham thuốc lá rượu chè. Nhớ cả nhà.

Tôi nắm lấy bàn tay sạm nắng của mẹ:

– Con nhớ. Con sẽ viết thư về thường xuyên.

Cha lặng lẽ đi quanh nhà, xem lại mái rạ, cái chuồng lợn, mấy cái cọc ngoài bờ ao như để chuẩn bị thay tôi gánh hết mọi việc còn lại. Đến gần sáng, ông mới ngồi xuống bên tôi, nói nhỏ:

– Có chuyện này bố chưa kể bao giờ. Hồi bố đi B, bà nội cũng khóc như mẹ con bây giờ. Bố đi suốt bảy năm mới về, tưởng không gặp lại đất Nghĩa Hưng này. Nhưng bố vẫn sống, vì trong đầu lúc nào cũng nghĩ: “Phải về nhà, về với mẹ, với bà”. Con cũng phải nghĩ như vậy. Chiến tranh khốc liệt, nhưng luôn có đường cho những thằng biết giữ mình và biết thương đồng đội.

Tôi gật đầu. Những lời đó theo tôi suốt những năm sau này.

Ngày rời làng

Sáng 5/11/1979, trời se lạnh. Sương mù giăng kín con đường từ làng ra tỉnh lộ. Tôi khoác ba lô mới, mặc bộ quần áo nâu sẫm, chân đi đôi dép cao su. Trên ngực trái là tấm giấy ghi họ tên, quê quán.

Cả xã tiễn quân ngay tại sân ủy ban. Cờ đỏ sao vàng bay phấp phới, những bó hoa dại được buộc vội bằng dây chuối. Tôi đứng trong hàng, nhìn ra ngoài thấy mẹ đứng chen giữa đám người, tay liên tục kéo vạt áo lau mắt. Em gái bám bên cạnh, mắt đỏ hoe. Cha đứng sau, môi mím chặt, tay chống gậy.

Tên tôi được xướng lên trong danh sách từng người. Chúng tôi bước lên, cúi chào lãnh đạo xã, nhận chiếc khăn quàng làm kỷ niệm. Đến lượt mình, tôi quay xuống, cố gắng tìm ánh mắt mẹ. Gặp được rồi, tự dưng cổ họng nghẹn lại, tôi chỉ kịp giơ tay lên chào.

Khi đoàn thanh niên bước lên xe ô tô quân đội, tiếng trống, tiếng chiêng nổi lên rộn ràng mà lòng tôi nặng trĩu. Lan cũng đứng trong đám người tiễn, tay cầm bó hoa cúc vàng. Lúc xe từ từ lăn bánh, cô bất ngờ chạy theo, vẫy tay:

– Cương! Nhớ viết thư về nhé!

Tôi thò người ra cửa sổ, hét to giữa tiếng ồn:

– Ừ! Đợi anh!

Câu nói ấy bị tiếng máy xe nuốt mất, nhưng tôi tin Lan nghe được, hoặc ít nhất là đoán được. Con đường quen thuộc của làng nhanh chóng lùi lại phía sau. Những hàng tre, mái nhà tranh, bờ ao, lũy tre… tất cả nhỏ dần rồi khuất hẳn.

Trên xe, thằng Biên – không trúng tuyển – được phân công đi cùng tiễn đến ga tỉnh. Nó ngồi cạnh tôi, cười mà mắt rưng rưng:

– Mai mốt lên biên giới, thấy thằng nào tên Biên thì nhớ chào cái nhé, coi như chào tao.

– Ừ, nếu gặp, tao bảo nó không được ăn hiếp tao – tôi đáp, cố tỏ ra vui.

Xe dừng ở một quán nước ven đường cho mọi người nghỉ. Tôi xuống xe, tranh thủ đứng nép một góc nhìn về hướng làng mình. Dù chẳng thấy gì ngoài mấy dãy nhà xa tít, nhưng tôi vẫn có cảm giác nơi đó mẹ đang đứng trước cửa, nhìn về phía này.

Lần đầu nhìn thấy miền núi

Từ thị xã Nam Định, chúng tôi được đưa ra ga, lên tàu hướng về phía Bắc. Đây là lần đầu trong đời tôi đi tàu hỏa. Tiếng bánh sắt nghiến trên đường ray, tiếng còi tàu hú dài, những toa tàu chật chội mùi khói than, mùi người.

Trên tàu, chúng tôi ngồi chen chúc, hát hò để quên cảm giác nhớ nhà. Anh cán bộ dẫn đoàn – trung úy Quang – nói:

– Các đồng chí, chuyến đi này có thể là bước ngoặt của cuộc đời. Ra ngoài biên giới, chúng ta không chỉ học chiến đấu, mà còn học làm người. Phải đoàn kết, giúp đỡ nhau.

Tàu chạy qua những cánh đồng Bắc Bộ, những dãy làng mạc lùi lại phía sau. Đến gần Hà Nội, tôi thấy nhà cửa san sát, cầu cống to hơn. Nhưng càng đi về phía Tây Bắc, cảnh vật thay đổi. Núi non bắt đầu hiện ra, lúc đầu xa xa rồi gần hơn, bám sát đường tàu.

Đêm xuống, trời lạnh hơn. Tôi ngồi sát cửa sổ, nhìn ra thấy những vệt sáng thưa thớt của mấy bản làng miền núi, tự hỏi: “Không biết mình sẽ đóng quân ở chỗ nào trong những dãy núi kia?”

Đến một ga nhỏ, trung úy Quang thông báo:

– Tàu dừng ở đây. Từ giờ chúng ta chuyển sang xe ô tô để lên đơn vị huấn luyện ở Lào Cai.

Khi bước xuống sân ga, luồng gió lạnh ào tới khiến tôi rùng mình. Hơi thở phả ra thành khói trắng. Tôi kéo cao cổ áo, siết chặt quai ba lô. Bầu trời đêm vùng núi lấp lánh sao, những ngọn núi đen sẫm như những bức tường khổng lồ bao quanh.

Xe ô tô quân đội chờ sẵn. Chúng tôi lên xe, lắc lư trên con đường quanh co. Ánh đèn pha quét qua những sườn núi, những vực sâu hun hút bên đường. Lâu lâu, tôi thấy một con suối lấp lánh dưới ánh trăng, nghe tiếng nước chảy rì rầm.

Ngồi cạnh tôi là một cậu bạn người Thái Bình tên Hường. Cậu ta run vì lạnh nhưng vẫn cố đùa:

– Quê tớ toàn đồng bằng, lên đây thấy núi cao quá. Lỡ mai cho tớ leo lên đỉnh núi chắc tớ ngã lăn quay.

Tôi cười:

– Tớ còn chưa thấy núi bao giờ. Mai mốt tập leo chắc ngã nhiều đấy.

Anh lái xe nghe được, quay đầu lại nói:

– Rồi các chú quen thôi. Lên đây được hít khí núi rừng, được giữ đất nước, sau này về kể cho con cháu nghe, sướng hơn nhiều người đấy.

Lời anh lái xe làm tôi ấm lòng. Tôi tựa đầu vào thành xe, nhìn ánh trăng lướt theo bên ngoài, cảm giác như mình đang đi vào một thế giới hoàn toàn khác – thế giới của núi rừng, của những người lính nơi biên cương.

Bước chân đầu tiên vào doanh trại

Gần sáng, xe dừng trước cổng một doanh trại đóng trên sườn núi. Tấm biển gỗ sơ sài nhưng hàng chữ sơn trắng rõ ràng: “Tiểu đoàn 19 – Công an vũ trang”. Phía sau cổng là dãy nhà gỗ lợp fibro xi măng, ánh đèn vàng vọt vẫn còn sáng.

Trung úy Quang hô lớn:

– Xuống xe! Xếp hàng!

Chúng tôi vác ba lô, súng gỗ, ríu rít đi theo anh vào sân đơn vị. Sương mù dày đặc, lạnh ngắt. Ở giữa sân là cột cờ cao, lá cờ đỏ sao vàng cuộn lại trong đêm.

Một người đàn ông khoảng ngoài ba mươi, tóc cắt ngắn, quân hàm đại úy, bước ra đón. Anh nhìn chúng tôi bằng ánh mắt vừa nghiêm khắc vừa ấm áp:

– Chào các đồng chí tân binh! Từ hôm nay, các đồng chí là chiến sĩ của Tiểu đoàn 19, làm nhiệm vụ bảo vệ biên giới Tổ quốc. Đơn vị chúng ta đang ngày đêm chiến đấu với quân xâm lược và bọn phản động. Mong các đồng chí sớm hòa nhập, rèn luyện tốt.

Tiếng “rõ!” của chúng tôi vang lên, hơi trắng phả ra cùng lời đáp. Trong khoảnh khắc đó, tôi bỗng nhớ tới câu nói của cha: “Đây là giữ từng tấc đất biên cương”. Tôi nhìn lên dãy núi mờ trong sương, lòng chợt dấy lên cảm giác thiêng liêng khó tả.

Người ta phân chúng tôi về từng trung đội, tiểu đội. Tôi được xếp vào Trung đội 2, A5. Anh tiểu đội trưởng tên Tuấn – người Lào Cai – cười tươi:

– Từ giờ các cậu là lính biên giới rồi đấy. Có lạnh cũng phải quen. Mai bắt đầu huấn luyện, chuẩn bị tinh thần đi!

Đêm đó, lần đầu tiên tôi ngủ trong nhà lính – căn phòng gỗ dài, giường tầng san sát, chăn màn đơn sơ. Tôi nằm trên tầng hai, ôm ba lô làm gối, nghe tiếng gió luồn qua vách, tiếng núi rừng rì rầm bên ngoài. Trong bóng tối, có tiếng một anh lính thì thầm:

– Không biết bao giờ mới được về phép nhỉ?

Một giọng khác đáp:

– Lo gì. Trước hết cứ sống qua mùa đông này đã.

Cả phòng cười khẽ. Riêng tôi, mắt mở thao láo, đầu óc quay cuồng những hình ảnh: cánh đồng muối quê nhà, gương mặt mẹ, ánh mắt cha, nụ cười rụt rè của Lan, rồi dãy núi trước doanh trại.

Tôi biết, từ phút giây này trở đi, cuộc đời mình đã bước sang một chặng khác – chặng đường của một người lính biên cương.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
Từ bờ sông quê đến lệnh tổng động viên | Câu chuyện thời hoa lửa