Anh hùng Lực lượng vũ trang

Từ "cạo trọc đầu" quyết thắng Pháp ở Điện Biên Phủ đến "bố Năm" của Trường Sĩ quan Lục quân 2

Từ “Đại đội trưởng đầu trọc” ở Điện Biên Phủ đến Sư đoàn trưởng tiến vào Dinh Độc Lập trưa 30/4/1975, cuộc đời Trung tướng Lê Nam Phong gắn với nhiều chiến trường ác liệt và những dấu mốc lớn của lịch sử dân tộc.

Đồng Nai16/09/2026Đoàn xã Krông Búk, Đắk Lắk (Xã Krông Búk)1 lượt xem0 lượt chia sẻ
Từ "cạo trọc đầu" quyết thắng Pháp ở Điện Biên Phủ đến "bố Năm" của Trường Sĩ quan Lục quân 2

Từ người liên lạc Việt Minh đến “Đại đội trưởng đầu trọc” ở Điện Biên Phủ

Trung tướng Lê Nam Phong, tên thật là Lê Hoàng Thống, sinh năm 1927 quê ở huyện Quỳnh Lưu (cũ), tỉnh Nghệ An. Ông tham gia hoạt động cách mạng từ khi còn rất trẻ, ban đầu làm nhiệm vụ liên lạc cho tổ chức Việt Minh bí mật tại quê nhà.

Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Lê Nam Phong chiến đấu trong Đại đoàn 308 - Đại đoàn Quân Tiên phong, một trong những đại đoàn chủ lực đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam. Ông lần lượt tham gia nhiều chiến dịch lớn như Biên giới, Hà Nam Ninh, Hòa Bình trước khi bước vào trận quyết chiến chiến lược Điện Biên Phủ năm 1954.

Tại Điện Biên Phủ, ông Lê Nam Phong khi ấy là Đại đội trưởng Đại đội 225, Tiểu đoàn 322, Trung đoàn 88, Đại đoàn 308. Một trong những trận đánh đầu tiên in đậm dấu ấn trong cuộc đời binh nghiệp của ông là trận tiến công cứ điểm Độc Lập ở phía Bắc tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ.

Đồi Độc Lập nằm cách trung tâm Mường Thanh khoảng 4km, được quân Pháp xây dựng thành một cứ điểm phòng ngự kiên cố với hệ thống lô cốt, chiến hào và nhiều lớp hàng rào dây thép gai. Sau khi quân ta tiêu diệt cứ điểm Him Lam, đêm 14 rạng sáng 15/3/1954, Trung đoàn 88 của Đại đoàn 308 phối hợp với Trung đoàn 165, Đại đoàn 312 tiến công Độc Lập.

Đại đội 225 do ông Lê Nam Phong chỉ huy nằm trong đội hình xung kích. Đêm đó, mưa lớn, chiến hào ngập nước và bùn. Trước giờ tiến công, bộ đội còn phải chịu những đợt pháo kích dữ dội của đối phương. Đến khoảng 3 giờ 30 phút sáng 15/3, cuộc tiến công bắt đầu. Sau khi bộ đội công binh dùng bộc phá mở cửa, Lê Nam Phong dẫn đơn vị xông lên, phối hợp cùng các lực lượng đánh sâu vào bên trong cứ điểm.

Đến khoảng 6 giờ 30 phút sáng, quân ta hoàn toàn làm chủ đồi Độc Lập. Sau trận đánh này, Đại đội 225 tiếp tục được giao nhiệm vụ chiến đấu tại khu vực quanh sân bay Mường Thanh. Những ngày dài sống và chiến đấu trong chiến hào khiến bộ đội luôn phải chịu cảnh ẩm ướt, bùn đất bám đầy người, nhiều chiến sĩ bị nấm da đầu. Ông Lê Nam Phong quyết định cạo trọc đầu trước, rồi nhiều chiến sĩ trong đại đội cũng làm theo.

Theo những câu chuyện ông kể lại sau này, trong một lần Đại tướng Võ Nguyên Giáp xuống kiểm tra trận địa, thấy người đại đội trưởng trẻ cạo trọc đầu nên hỏi nguyên nhân. Lê Nam Phong trả lời rằng cạo đầu để thể hiện quyết tâm đánh thắng quân Pháp. Từ đó, Đại tướng Võ Nguyên Giáp cũng gọi ông bằng biệt danh “Đại đội trưởng đầu trọc”. Sau này ông còn có hàng loạt biệt danh khác như: Năm “Lửa” vì tính khí nóng nảy; Năm “Bình toong” vì mỗi lần trước khi vào trận chiến đấu là mở bình toong nhấp một ngụm rượu; Năm “Hỏa lực” vì chỉ huy đánh trận nào là sử dụng hỏa lực rất mạnh”.

Không chỉ tham gia trận Độc Lập, đơn vị của ông Lê Nam Phong còn chiến đấu tại nhiều vị trí quan trọng khác trong lòng chảo Điện Biên Phủ. Tại điểm cao 311A, bộ đội tổ chức đào chiến hào và hầm ngầm tiến sát cứ điểm, sử dụng bộc phá mở cửa rồi từ hệ thống công sự xung phong vào trận địa đối phương. Cách đánh dựa vào việc đào hào áp sát đã giúp hạn chế việc bộ đội phải vận động trên địa hình trống trải dưới hỏa lực mạnh của quân Pháp.

Sau 56 ngày đêm chiến đấu, Chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc thắng lợi ngày 7/5/1954. Lê Nam Phong cùng đơn vị sau đó tham gia tiếp quản Thủ đô Hà Nội. Những năm tiếp theo, ông tiếp tục được đào tạo và công tác trong quân đội. Từ đầu năm 1959 đến đầu năm 1960, ông học tại Học viện Nam Kinh, Trung Quốc. Sau khi trở về nước, ông công tác tại Cục Tác chiến, Bộ Tổng Tham mưu. Nhưng thời gian làm việc tại cơ quan tham mưu không kéo dài. Khi chiến trường miền Nam ngày càng quyết liệt, Lê Nam Phong lại lên đường ra trận.

Người chỉ huy sư đoàn 7 gắn với cuộc chiến tại Tàu Ô - Xóm Ruộng

Năm 1964, ông Lê Nam Phong được điều vào chiến trường miền Nam và được giao làm Trung đoàn trưởng Trung đoàn 3, Sư đoàn 9 thuộc Bộ Tư lệnh Miền. Đây cũng là thời điểm quân đội Mỹ trực tiếp đưa lực lượng chiến đấu quy mô lớn vào miền Nam. Các đơn vị chủ lực của ta phải đối diện một đối phương có ưu thế rất lớn về hỏa lực, phương tiện cơ giới và khả năng cơ động bằng trực thăng.

Play

00:00

00:00

00:34

Mute

Play

Tháng 11/1965, ông Lê Nam Phong cùng Trung đoàn 3 tham gia trận Bàu Bàng tại Bình Dương. Sau 3 giờ chiến đấu, Quân Giải phóng tiêu diệt và làm bị thương khoảng 2.000 lính Mỹ, phá hủy 30 xe tăng và xe bọc thép. Đây là một trong những trận đầu tiên Quân Giải phóng trực tiếp đối đầu quân đội Mỹ với quy mô lớn, tổ chức hiệp đồng chặt chẽ và giành thắng lợi vang dội.

Lúc 1 giờ 30 phút ngày 24/2/1966, trong trận chống càn tại khu vực Bông Trang – Nhà Đỏ, ông chỉ huy Trung đoàn 3 phối hợp Trung đoàn 1, Sư đoàn 9 tiến công cuộc càn quét của liên quân Mỹ - Úc và quân VNCH. Sau hơn 6 giờ chiến đấu, Quân Giải phóng loại khỏi vòng chiến đấu 2 tiểu đoàn Mỹ, đánh thiệt hại toàn bộ sở chỉ huy Lữ đoàn 3, Sư đoàn 1 Mỹ; phá hủy 48 xe M113 và 24 xe tăng.

Sau trận Bàu Bàng, ông cùng một số cán bộ của Sư đoàn 9 được triệu tập về sở chỉ huy để nghe Đại tướng Nguyễn Chí Thanh nói chuyện về cách đánh quân Mỹ. Những kinh nghiệm từ thực tế chiến trường sau đó tiếp tục được các đơn vị vận dụng trong những trận đánh tiếp theo.

Từ năm 1967, Lê Nam Phong chuyển sang công tác tại Sư đoàn 7. Ông lần lượt đảm nhiệm nhiều cương vị chỉ huy và tham mưu, gắn bó lâu dài với chiến trường Đông Nam Bộ. Một trong những địa danh gắn chặt với tên tuổi Sư đoàn 7 và ông Lê Nam Phong là Tàu Ô - Xóm Ruộng trên đường 13.

Trong Chiến dịch Nguyễn Huệ năm 1972, Sư đoàn 7 đảm nhiệm nhiệm vụ chốt chặn trên tuyến đường chiến lược này. Cuộc chiến tại Tàu Ô - Xóm Ruộng kéo dài hơn 150 ngày đêm, trở thành một trong những trận đánh ác liệt nhất trên chiến trường Đông Nam Bộ thời điểm đó.

Những năm cuối của cuộc kháng chiến chống Mỹ, Sư đoàn 7 tiếp tục tham gia nhiều chiến dịch lớn. Cuối năm 1974, đơn vị chiến đấu trong quá trình giải phóng Phước Long. Khi Quân đoàn 4 được thành lập, Sư đoàn 7 trở thành một trong những đơn vị chủ lực của quân đoàn.

Đến mùa Xuân năm 1975, Lê Nam Phong giữ cương vị Sư đoàn trưởng Sư đoàn 7, Quân đoàn 4. Tháng 4/1975, Sư đoàn 7 cùng các lực lượng của Quân đoàn 4 bước vào trận Xuân Lộc. Xuân Lộc khi ấy là một trong những vị trí phòng thủ quan trọng nhất ở cửa ngõ phía Đông Sài Gòn. Quân đội Sài Gòn tập trung nhiều lực lượng tại đây với mục tiêu ngăn chặn bước tiến của các binh đoàn chủ lực Quân giải phóng.

Trận đánh diễn ra quyết liệt trong nhiều ngày. Thực tế chiến trường buộc người chỉ huy phải liên tục theo dõi sự thay đổi của đối phương để điều chỉnh cách đánh. Sau những ngày giao tranh ác liệt, tuyến phòng thủ Xuân Lộc bị phá vỡ. Cánh cửa phía Đông dẫn vào Sài Gòn được mở. Sư đoàn 7 tiếp tục tiến qua Biên Hòa, hướng về trung tâm Sài Gòn.

Trưa 30/4/1975, người chỉ huy Lê Nam Phong có mặt tại Dinh Độc Lập. Khi đó, các lực lượng tiến công đã làm chủ nơi này, lá cờ chiến thắng đã tung bay trên nóc dinh. Sư đoàn 7 sau đó cũng cắm lá cờ của đơn vị tại Dinh Độc Lập.

Nhiều năm sau, khi nhắc lại đời quân ngũ của mình, ông từng đúc kết bằng một câu ngắn gọn: “Tôi đã đi từ đồi Độc Lập đến Dinh Độc Lập”. Hai địa danh cùng mang hai chữ “Độc Lập” nhưng nằm ở hai đầu của một chặng đường lịch sử: đồi Độc Lập ở Điện Biên Phủ tháng 3/1954 và Dinh Độc Lập tại Sài Gòn ngày 30/4/1975.

Người thầy đặc biệt của Trường Sĩ quan Lục quân 2

Đất nước thống nhất nhưng cuộc đời binh nghiệp của ông Lê Nam Phong chưa dừng lại. Từ tháng 8/1976 đến tháng 8/1977, ông học tại Học viện Cao cấp, nay là Học viện Quốc phòng. Sau đó, ông trở lại Sư đoàn 7 rồi đảm nhiệm chức Tham mưu trưởng Quân đoàn 4.

Trong những năm cuối thập niên 1970, tình hình biên giới Tây Nam và phía Bắc diễn biến phức tạp, Lê Nam Phong tiếp tục được giao những nhiệm vụ mới. Từ tháng 3/1979, ông được điều về Quân đoàn 1 - Binh đoàn Quyết Thắng, lần lượt giữ chức Phó tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Quân đoàn 1. Đến đầu năm 1981, ông được giao chức Tư lệnh Quân đoàn 1. Tháng 3/1983, Lê Nam Phong được thăng quân hàm Thiếu tướng.

Từ tháng 10/1983 đến tháng 9/1987, ông giữ chức Phó tham mưu trưởng Bộ tư lệnh Mặt trận 719 Tiền phương tại Campuchia.

Ngày 15/10/1987, Tướng Lê Nam Phong được bổ nhiệm làm Hiệu trưởng Trường Sĩ quan Lục quân 2. Gần gũi, sâu sát với cán bộ, chiến sĩ, ông được mọi người trìu mến gọi là “bố Năm”. “Tôi khoái nhất là tên ‘bố Năm’ do cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên tặng”, Trung tướng Phong từng chia sẻ.

Sau nhiều năm trực tiếp chỉ huy ngoài chiến trường, vị tướng chuyển sang nhiệm vụ đào tạo các thế hệ sĩ quan trẻ. Những kinh nghiệm được tích lũy qua hàng chục năm chiến đấu trở thành nguồn tư liệu thực tế trong công tác huấn luyện và giảng dạy.

Ông đặc biệt chú trọng các vấn đề liên quan đến tổ chức chiến đấu, sử dụng hỏa lực và xử lý cửa mở trong tiến công. Với những kinh nghiệm từng trải qua tại Điện Biên Phủ cũng như các chiến trường miền Nam, tướng Lê Nam Phong yêu cầu người chỉ huy phải nắm chắc tình hình, tổ chức hỏa lực hợp lý và bảo đảm điều kiện để lực lượng đột kích phát triển tiến công.

Không chỉ quan tâm đến huấn luyện, ông còn chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ, giảng viên của nhà trường. Nhiều cán bộ được tạo điều kiện đi đào tạo tại các học viện, trường trong và ngoài quân đội để nâng cao trình độ chuyên môn.

Những năm công tác tại Trường Sĩ quan Lục quân 2, ông thấu hiểu khó khăn của cán bộ, giảng viên khi gia đình ở xa, thu nhập hạn hẹp, cuộc sống thiếu ổn định. Ông nhiều lần đề xuất với Đảng ủy, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng kiến nghị Chính phủ cấp đất xây nhà ở cho cán bộ, giảng viên.

Chủ trương được chấp thuận, khu gia đình nhà trường từng bước hình thành, giúp cán bộ, sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân viên ổn định cuộc sống. Nhà trường tiếp tục xây dựng nhà trẻ Hoa Hồng, Hoa Lan, phối hợp mở trường học tại Tam Phước, nâng cấp điện, đường, trường, trạm và quy hoạch quỹ đất nghĩa trang, góp phần chăm lo đời sống toàn diện cho cán bộ, nhân viên.

Tháng 6/1988, ông Lê Nam Phong được thăng quân hàm Trung tướng. Ông tiếp tục giữ cương vị Hiệu trưởng Trường Sĩ quan Lục quân 2 cho đến khi nghỉ hưu. Trung tướng Lê Nam Phong qua đời tại TP.HCM ngày 26/3/2022, hưởng thọ 95 tuổi.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn