BA QUÂN, TỪ CỔ NHẤT ĐỂ GỌI TÊN QUÂN ĐỘI
Từ xưa đến nay, để chỉ quân đội nói chung, nhân dân ta vẫn hay dùng cặp từ "ba quân", ví như trên sân khấu, viên tướng tuồng ra hô lớn "bớ tam quân". Tác giả Truyện Kiều từng viết: "Ba quân chỉ ngọn cờ đào". Trong văn học dân gian cũng vậy: "Gái ngoan tìm chồng ở chốn ba quân".
Để giải thích hiện tượng này, "Từ điển tiếng Việt" do Văn Tân chủ biên - định nghĩa "ba quân" là quân sĩ nói chung (xưa quân sĩ chia làm ba cánh là tiền quân, hậu quân, trung quân hoặc trung quân, tả quân hữu quân). "Từ điển tiếng Việt" - do Hoàng Phê chủ biên - định nghĩa "ba quân" là "ba đạo quân hoặc ba cánh quân lớn; tất cả binh sĩ dưới quyền chỉ huy của một viên tướng nói chung. Thề trước ba quân". Gần đây có người lại cho rằng: "Theo từ điển Từ Hải và Từ Nguyên của Trung Quốc thì quân là một đơn vị quân đội thời xưa, gồm có 12.500 lính. Ngày xưa ở Trung Quốc quy định Thiên tử có số quân là 6 quân... Các nước chư hầu vào loại lớn, mỗi nước chỉ được phép có số quân là 3 quân... Nước chư hầu vào loại trung bình chỉ được phép có số quân là 2 quân... Còn nước chư hầu vào loại nhỏ thì được phép có số quân là 1 quân... Vì vậy, người ta thường dùng từ sasu quân... hoặc ba quân... để chỉ quân đội nói chung".
Liệu những cách giải thích trên đã thỏa đáng chưa? Chúng ta cùng bắt đầu bằng từ QUÂN. Lịch sử thế giới đã ghi rõ các phiên chế lớn trong quân đội cổ đại Trung Hoa được gọi tên là: đạo, lộ, lữ, vệ, quân... Đạo, lộ nghĩa gốc là "con đường", những con đường dẫn quân đội ra chiến trường. Lữ là "đi nơi xa", gần đồng nghĩa với "viễn chinh", quân đội đi chiến đấu ở những miền đất lạ. Vệ là "giữ gìn". Nhiệm vụ, chức năng quân đội là "giữ gìn" đất nước, "che chở” non sông. Về thực chất, các từ đó chỉ mới thể hiện ra một vài tính chất chứ chưa bao hàm được nội dung cơ sở vật chất - kỹ thuật chi phối sức chiến đấu của lực lượng vũ trang. Trong số đó, chỉ có từ quân là thích hợp nhất cho việc dùng để chỉ đơn vị quân đội. Theo cách hội ý của chữ Hán, quân bao gồm hai thành tố: mịch là "trùm lên", xa là "xe". Việc quân, trong đó bao trùm lên tất cả là những cỗ xe chiến. Thật vậy, ở thời cổ đại, từ phương Đông đến phương Tây, binh lực mạnh yếu đều căn cứ chủ yếu vào số lượng xe chiến. Dưới thời Tây Chu, nước Thiên tử có "vạn thặng" (mười ngàn cỗ xe chiến), nước chư hầu lớn có "thiên thặng" (ngàn cỗ xe chiến), nước chư hầu nhỏ có "bách thặng" (trăm cỗ xe chiến). Thặng là cỗ xe chiến có bốn ngựa kéo. Sở dĩ việc quân quan tâm đặc biệt đến xe chiến là vì thời đó, trừ quân đội Ba Tư, tất cả mọi quân đội trên thế giới đều chưa có kỵ binh. Con người biết dùng ngựa để kéo xe trước khi biết dùng ngựa để cưỡi, ở Trung Hoa, kỵ binh xuất hiện vào cuối thế kỷ IV - đầu thế kỷ III trước Công nguyên. Bởi vậy, việc cơ động trong tác chiến nhất thiết phải dùng xe chiến. Từ nội dung đó, quân được xem là "đơn vị tổ chức (chiến đấu) cơ bản" mà ngày nay, chúng ta hiểu là trung đoàn và những thuật ngữ quân sự tương ứng: "binh đội chiến thuật", "bộ đội", "đơn vị" - để giải quyết các trận đánh trên chiến địa. Cũng tương tự như vậy, "đơn vị tổ chức (chiến đấu) cơ bản" "dưới thời cổ đại ở Hy Lạp là phă-lăng, ở La Mã là lê-gi-ông. Sang thời trung đại, nhất là từ thế kỷ XV trở đi, "đơn vị tổ chức (chiến đấu) cơ bản" ở châu Âu nói chung là régiment, ở Nga là polk, còn ở Trung Hoa và Việt Nam (từ thời Đinh đến thời Tây Sơn) vẫn là quân. Số quân buổi đầu nhà Trần, mỗi quân là 2.400 người. Như vậy, ở phương Đông, từ Trung Hoa đến Việt Nam, từ quân được dùng tới khoảng 2.400 năm. Không những thế, loại đơn vị này còn tồn tại khá lâu, tới gần 500 năm nữa. Cho đến cuối thế kỷ XVIII, đơn vị tổ chức cơ bản trong tất cả các quân đội là trung đoàn (từ 1.200 đến 1.500 người).
Bây giờ chúng ta chuyển sang con số BA, nghĩa của tam, từ tiếng Hán. Do nhu cầu của chiến đấu, lý luận cũng như thực tiễn, các lực lượng vũ trang cổ đại, kể cả nhà Tây Chu, thường phiên chế theo nguyên tắc "tam tam chế", cấp nào cũng có tả, trung, hữu. Tổ chức đó phản ánh cách bảo vệ đội hình chiến đấu mạnh ở chính diện và yếu ở hai bên. Để chống tình trạng "hở sườn", cùng với trung quân - đại bộ phận lực lượng, vị trí của người chỉ huy - từng cấp đều tổ chức thêm hai bộ phận "tả dực" và "hữu dực". Dực là "cánh chim". Chính vì vậy, thuật ngữ quân sự mới có cụm từ "tả xung, hữu đột" (xông bên trái, đánh bên phải) mà không hề có cụm từ "tiền xung, hậu đột" (xông phía trước, đánh phía sau) hoặc "thượng xung, hạ đột" (xông lên trên, đánh xuống dưới). Để hình dung cách bố trí lực lượng tác chiến này, chúng ta hãy quan sát đội hình thi đấu một trận bóng đá. Ở hai bên sườn của hàng tiền đạo, bên phải và bên trái các cầu thủ trung phong, bất cứ trận đấu thuộc hạng nào cũng đều có hai cầu thủ "tả biên" và "hữu biên". Biên là "bên cạnh". Tiếng Việt gọi là "cánh trái" và "cánh phải...". Chính do sự tương đồng của tả dực - hữu dực và tả biên - hữu biên, tiếng Pháp đều ghi chung là aile gauche và aile droite. Theo sử sách, ở Việt Nam, thời Lý - Trần, các đơn vị chiến đấu đều có sự tổ chức "ba bộ phận" như vậy. Năm thứ hai đời vua Lý Thái Tổ (1011) có quân túc xa tả và hữu. Khi vua Trần Thái Tông mới được nước, cũng định các quân Tả Hữu thánh dực.
Tóm lại, BA QUÂN là sự phiên chế lực lượng vũ trang theo nguyên tắc "tam tam chế" - gồm ba bộ phận tả, trung, hữu - lấy "quân" làm "đơn vị tổ chức (chiến đấu) cơ bản" ở Trung Hoa và Việt Nam suốt mấy ngàn năm lịch sử. Bởi vậy, khi nói đến ba quân, người ta nghĩ ngay đến sự đồng nghĩa với quân đội, với lực lượng vũ trang nói chung bằng một cách gọi tên cổ nhất. | |
Logged
|
|
|
|
ktqsvn Thành viên  Bài viết: 561  | 
| Từ cây giáo đến khẩu súng - Tập 1« Trả lời #2 vào lúc: 21 Tháng Chín, 2021, 06:54:27 am » | CHIẾN XA HAY KỊ BINH RA ĐỜI TRƯỚC?
Ngày nay, ở khắp nơi trên thế giới, người ta vừa dùng ngựa để cưỡi lại vừa dùng ngựa để kéo xe. Vậy chung quanh con ngựa, "sức kéo" hay "sức chở" của nó ra đời trước? Phần đông dư luận đều cho rằng loài người cũng như dân du mục Trung Á - biết cưỡi ngựa trước khi dùng nó để kéo xe rồi từ đó mà đoán định rẳng trong lĩnh vực quân sự, kỵ binh đã ra đời trước chiến xa. Sự thật lịch sử quân sự diễn ra như thế nào?
Dưới thời Xuân Thu (770-476 trước Công nguyên), trong "Binh pháp thập tam thiên", Tôn Tử viết: "Phàm cất quân tác chiến, nếu dùng ngàn cỗ khinh xa, ngàn cỗ trọng xa, mười vạn quân lính, tải lương ngàn dặm thì chi phí cho tiền phương và hậu phương, chiêu đãi khách khứa, chuẩn bị chiến cụ, sửa chửa xe cộ, giáp trụ, mỗi ngày tốn tới ngàn vàng mới có thể đưa được mười vạn quân lên đường". Cùng thời đó, con cái quý tộc chủ nô ở Trung Quốc đều được dạy dỗ "lục nghệ" (sáu nghề) mà trong đó có hai nghề thuộc nghiệp vụ chuyên môn cho những người chỉ huy quân sự là "xạ" (bắn cung) và "ngự" (điều khiển chiến xa). Khổng Tử và 72 học trò của ông đều là những người rất tinh thông "lục nghệ". Như vậy ở thời Xuân Thu, bên cạnh bộ binh, chung quanh ”con ngựa", người ta chỉ mới nói đến binh chủng chiến xa - loại xe do ngựa kéo - và khi nhắc đến nhiệm vụ chỉ huy quân sự, người ta cũng chỉ nói đến việc "điều khiển chiến xa" chứ chưa hề nói đến việc "cưỡi ngựa" trong chiến tranh. Điều đó chứng tỏ rằng ở thời điểm này, cưỡi ngựa còn là việc xa lạ trong xã hội. Còn đến thế kỷ XIII, ở Việt Nam, khi nhắc đến những nhiệm vụ của người chỉ huy, Trần Quốc Tuấn nhắc nhở: "Người làm tướng không nên lấy giỏi cung đao cưỡi bắn làm tài mà phải lấy thông suốt cổ kim làm giỏi". Dĩ nhiên trong nội dung lời căn dặn - đó, ông khuyên các bậc chỉ huy cấp dưới phải lấy việc nâng cao trình độ tư duy quân sự làm trọng nhưng về kỹ năng, bên cạnh việc "bắn cung" như thời cổ đại, ông chỉ lưu ý đến việc "cưỡi ngựa" mà không hề nhắc một câu đến việc "đánh xe" vì ở thời trung đại, chiến xa do ngựa kéo đã không còn tồn tại trong quân đội các nước nữa. Sang thời Chiến Quốc (475-221 trước Công nguyên), cuốn "Binh pháp Ngô Khởi" ra đời. Thời gian gần đây, ở Trung Quốc, trong quá trình thẩm định nội dung cuốn sách lý luận quân sự hiện đang lưu hành đó, sự xuất hiện của kỵ binh cũng được đề cập tới. Quách Mạt Nhược, một học giả lớn, có uy tín ở thời hiện đại Trung Quốc, đã phủ nhận chi tiết "ba ngàn kỵ binh" nêu trong thiên Lệ Sĩ (khích lệ binh sĩ). Ông cho rằng bị kinh Trung Hoa chỉ xuất hiện sau khi Triệu Vũ Linh Vương (ở ngôi từ năm 325-299 trước Công nguyên, sau thời gian hoạt động của Ngô Khởi khoảng 100 năm) học theo cách ăn mặc và kỹ thuật cưỡi ngựa, bắn cung của các bộ tộc du mục phương Bắc rồi truyền vào trung nguyên. Sự khẳng định trên nói lên rằng vào cuối thời Chiến Quốc, kỵ binh Trung Quốc mới xuất hiện còn trước đó, việc cơ động lực lượng chủ yếu vẫn là chiến xa.
Trở lên trên là tình hình Đông Á thời cổ đại.
Còn tình hình Tây Á và châu Âu ở thời điểm đó? Về nội dung này, Ph.Ăng-ghen đã có nhận xét rằng trọng các quân đội của thế giới cổ đại thì quân đội Ai Cập là quân đội đầu tiên mà chúng ta có được ít nhiều tư liệu đáng tin cậy. Bộ binh là sức mạnh của quân đội ấy. Bộ binh sử dụng rất nhiều chiến xa. Còn Át-xi-ri là nước đã cung cấp cho chúng ta một hình ảnh sớm nhất về các quân đội châu Á. Bộ binh cũng được trang bị giống như bộ binh Ai Cập. Các cỗ chiến xa hãy còn là một thành phần quan trọng trong quân đội. Ở châu Âu, tình hình cũng tương tự, nghĩa là trong quân đội Hy Lạp ở thời kì vinh quang của nó-như Hô-me mô tả-kỵ binh vẫn là một điều chưa biết đến. Các quý tộc và các thủ lĩnh vẫn còn chiến đấu trên những cỗ chiến xa.
Điều chắc chắn là trong cuộc chiến tranh Hy Lạp- Ba Tư (500-449 trước Công nguyên), kỵ binh chưa xuất hiện. Chả thế mà người chiến binh được giao nhiệm vụ báo tin chiến thắng lớn ở Ma-ra-tông (490 trước Công nguyên) đã phải chạy bộ, vượt qua 42km đường rừng núi từ chiến trường về kinh đô A-ten và đã kiệt sức, gục ngã sau khi nói lại lời cuối cùng. Ngày nay, trong các trận thi đấu thể thao, người ta vẫn thường tổ chức chạy ma-ra-tông. Đó chính là bắt nguồn từ chiến thắng lịch sử này. Tuy đã từng đánh giá tài thao lược của A-lếch-xăng-đrơ Ma-xê-đoan (356-323 trước Công nguyên), "một trong những người chỉ huy kỵ binh xuất sắc nhất của mọi thời đại" nhưng Ph.Ăng-ghen cũng cho rằng loại "binh chủng kỵ binh nặng chiến đấu lần đầu tiên trong lịch sử" đó "đã quyết định kết cục trong trận đánh ở Ác-ben-la, cũng chỉ là một hiện tượng rất ngoại lệ, đến nỗi từ ngày ấy đến nay, chúng ta cũng không nghe nói gì thêm về nó nữa". Trong quân đội La Mã, việc sử dụng kỵ binh còn chậm hơn nhiều so với quân đội các nước đương thời vì quân lính La Mã chưa hề cưỡi ngựa bao giờ. Về sau, so với thời kỳ chiến tranh Puy-ních (264-241, 218-201 và 149-146 trước Công nguyên), kỵ binh La Mã có khá hơn đôi chút nhưng chưa có khi nào được tổ chức thành một binh chủng riêng biệt mà chỉ là một số đơn vị nằm trong các đạo quân. Cùng với những nhận xét vừa nêu ra mang tính chất chung, Ph.Ăng-ghen vẫn không quên dành riêng một trường hợp ngoại lệ cho quân đội vương quốc Ba Tư. Đó là "đất nước của những người cưỡi ngựa, ở đó kỵ binh đã lập tức chiếm được địa vị thống trị, cái địa vị mà nó đã chiếm giữ từ ngày xưa trong tất cả các quân đội phương Đông".
Đến đây, qua khảo sát tiến trình lịch sử quân sự ở từng thời đại, từng địa bàn thường xảy ra chiến tranh trong thời cổ đại, để thay cho lời kết luận, chúng ta đã có thể khẳng định rõ được thứ tự ra đời của "đánh xe" và "cưỡi ngựa" đúng như Ph.Ăng-ghen đã từng khái quát: "Có lẽ ban đầu, ngựa chỉ dùng để kéo xe, chí ít trong lịch sử quân sự, các cỗ chiến xa đã có từ lâu trước đội quân cưỡi ngựa". | |
Logged
|
|
|
|
ktqsvn Thành viên  Bài viết: 561  | 
| Từ cây giáo đến khẩu súng - Tập 1« Trả lời #3 vào lúc: 21 Tháng Chín, 2021, 06:55:12 am » | KỊ BINH VỐN SINH RA TỪ CHÂU Á
Ở phương Tây, người ta mệnh danh ngựa là "con thú quý tộc" vì nó từng là biểu tượng của "quyền lực", của "thủ lĩnh", "chủ nô", của "lãnh chúa", "kị sĩ". Không những thế, trong một thời gian rất dài, tới hàng ngàn năm, con ngựa đã góp phần đẩy bộ binh xuống hàng thứ yếu, nâng kỵ binh lên địa vị độc tôn, thực sự tham gia giải quyết các trận đánh khắp nơi ở châu Âu. Có ai biết rằng kỵ binh vốn sinh ra từ hai vùng đất của châu Á: vùng đồng cỏ Trung A và vùng đồng cỏ Bắc Á.
Thường thì giống ngựa Trung A rất đẹp, thon thả, nhanh nhẹn và có sức chịu đựng dẻo dai. Con tuấn mã Bu-xê-phan của hoàng đế A-lếch-xăng-đrơ Ma-xê-đoan (356-323 trước Công nguyên) cũng sinh ra từ vùng đất này. Dân chúng ở đây khi bước vào lịch sử đã từng là nhứng người sống trên đồng cỏ, giỏi chăn nuôi và thạo cưỡi ngựa. Từ đây, năm 1740, trước Công nguyên, người Cát-xít đã tiến vào chinh phục vùng Lưỡng Hà. Trong quá trình xâm nhập của họ, ngựa chiến cũng được đưa vào sử dụng. Và người Át-xi-ri đã học được cách dùng ngựa chiến của người Cát-xít. Sở dĩ người Át-xi-ri xây dựng được một đế quốc rộng lớn, bao gồm nhiều trung tâm văn hóa cổ đại như Lưỡng Hà, I-răng, Xi-ri, Tiểu A, Pa-lét-xtin, Ai Cập, phần lớn cũng là nhờ chiến thuật dùng kỵ binh. Từ Át-xi-ri, chúng ta có được một hình ảnh sớm nhất về quân đội châu Á. Đó là một đội quân chuyên nghiệp. Ngoài bộ binh, quân đội Át-xi-ri còn có đội kỵ binh cơ động, sử sách còn ghi, khoảng 1710 trước Công nguyên, người Hích-xốt - dân du mục sống trên đất Xi-ri và Pa-lét-xtin ngày nay - cũng đã từng dùng ngựa chiến đi chinh phục Ai Cập. Cho nên, bất luận thế nào thì người Ai Cập biết dùng ngựa để cưỡi và biết sử dụng đội kỵ binh hoàn toàn là nhờ có các nước châu Á láng giềng. Từ những sự kiện lịch sử đó, người ta đoán định rằng ngựa được dùng vào chiến trận khá lâu nhưng kỵ binh chỉ có thể xuất hiện khoảng 1.000 năm trước công nguyên bắt đầu từ những người dân Trung Á. Thế nhưng ở thời điểm đó, kỵ binh Át-xi-ri có chiếm ưu thế trên vùng đất từ bờ phía Đông Địa Trung Hải tới bờ phía Tây sông Anh-đuýtx thì cũng chỉ là một đội kỵ binh nhẹ, không chính quy. Khi tiến công, nó thường chia thành từng nhóm lộn xộn, dễ bị một đội bộ binh có trang bị tốt và vững vàng đánh bại. Phải chờ tới khi người Hi Lạp cải tạo được giống ngựa chiến và đưa vào sử dụng trong các đơn vị kỵ binh, việc xây dựng kỵ binh chính quy mới được hình thành. Và đến thời A-lếch-xăng đrơ Ma-xê-đoan, kỵ binh châu Âu lại được phát triển lên một bước nữa. Trong kỵ binh chính quy có kỵ binh nặng và kỵ binh nhẹ. Kỵ binh nặng - với giáp trụ, vũ khí đầy đủ - giữ vai trò quyết định trên chiến địa. Bên cạnh kỵ binh chính quy còn có kỵ binh không chính quy, gồm những kị sĩ bắn cung và những kị sĩ trang bị rất gọn, nhẹ, có thể vừa chiến đấu trong đội hình kỵ binh lại vừa chiến đấu trong đội hình bộ binh. Bằng cách tổ chức như vậy, A-lếch-xăng-đrơ đã giành được chiến thắng Ác-ben-la lừng lẫy vào năm 331 trước Công nguyên. Từ đó, ông được công nhận là một trong những người chỉ huy kỵ binh xuất sắc nhất của mọi thời đại. Đáng tiếc là sau khi A-lếch-xăng-đrơ qua đời, ở châu Âu, không còn ai nhắc đến kỵ binh của Hi Lạp và Ma-xê-đoan nữa. Sang thời trung đại, nhất là từ thế kỉ X, mối quan tâm đến kỵ binh đã rời vùng Địa Trung Hải, chuyển vào trung tâm châu Âu. Nhưng vào thời đó, những đội kỵ binh này chỉ là loại kỵ binh hiệp sĩ, tuy được huấn luyện kĩ càng song trang bị lại quá nặng nề. Mỗi kị thủ mang trên mình người - ngựa tới 300kg sắt thép nên rất khó cơ động, dễ dàng làm mồi cho kỵ binh đối phương. Chính vì vậy, đến thế kỷ XIII, những đội kỵ binh quá nặng nề ấy thường xuyên ở vào tình trạng kiệt quệ và cuối cùng đã bị đội kỵ binh nhẹ, cơ động của phương Đông đánh bại.
Nói đến kỵ binh phương Đông ở đây, tức là nói đến vùng đất thứ hai sản sinh ra kỵ binh ở châu Á. Theo Quách Mạt Nhược, một học giả nổi tiếng, kỵ binh Trung Quốc xuất hiện sau khi Triệu Vũ Linh Vương (ở ngôi vua từ năm 325 đến 299 trước Công nguyên) học theo cách ăn mặc và kĩ thuật cưỡi ngựa, bắn cung của các bộ tộc du mục phương Bắc rồi truyền vào nội địa Trung Quốc. Như vậy, kỵ binh còn bắt nguồn từ những người du mục vùng Bắc Á mà trong đó phải kể đến người Mông Cổ, những người vốn sinh ra từ trên lưng ngựa.
Do thể chất, tính kỉ luật, được cấp đủ ngựa chiến và mọi điều kiện vật chất khác nên kỵ binh Mông Cổ đã có một sự cơ động nhanh chóng, nhẹ nhàng. Mỗi ngày, họ có thể hành quân tới 70 km hay hơn nữa. Vì vậy, vốn cùng từ cư dân nông nghiệp nhưng quân đội Mông Cổ đã tỏ ra hơn hẳn các quân đội phong kiến đương thời - rất chậm chạp và cơ động chỉ là sự cần thiết nhất thời. Quân đội của họ là những đạo kỵ binh được phiên chế thành những đơn vị 10 người, 100 người, 1000 người (guran) và 10.000 người (tumen) đặt dưới quyền người chỉ huy bộ lạc. Mỗi kỵ binh Mông Cổ vừa có thể chiến đấu trên lưng ngựa lại vừa có thể chiến đấu dưới đất, vừa có cung tên đánh xa lại vừa có gươm, trùy để đánh gần, vừa thuần thục chiến đấu cá nhân lại vừa phối hợp hành động nhịp nhàng trong đội hình tập thể. Mỗi một đạo kỵ binh Mông Cổ đều là một tổ chức, có sự hiệp đồng của đội hình mật tập với đội hình tản khai, của đánh xa và của đột kích, của sự ăn ý giữa kỵ binh nặng - kỵ binh chủ lực - và kỵ binh nhẹ. Về vũ khí, kỵ binh Mông Cổ được trang bị rất gọn nhẹ. Mỗi kị thủ thường đem theo hai, ba con ngựa chiến. Khi thấy ngựa đối phương đã mệt, họ lập tức thay ngựa, nối dài cuộc chiến, nhanh chóng giành thắng lợi quyết định. Cùng ngựa chiến, kỵ binh nặng còn được trang bị gươm cong và áo giáp da thuộc có quét sơn còn kỵ binh nhẹ lại được trang bị cung tên: cung ngắn chiến đấu trên mình ngựa, cung dài chiến đấu dưới mặt đất. Trong quá trình chiến tranh, họ còn học được kỹ thuật công thành của người Hán đem áp dụng ngay vào việc đánh chiếm các thành lũy, còn xây dựng bằng gỗ và đất nện, của các nhà nước phong kiến ở Trung Á và Đông Âu. Với tính ưu việt của một lực lượng kỵ binh hùng mạnh, vô song như vậy, họ đã tiến hành một cuộc chiến tranh xâm lược đầy thú tính của những bộ tộc săn bắn và du mục ra phạm vi toàn thế giới. Tàn sát và phá hoại tất cả mọi thứ trên dọc đường tiến quân là mục đích hành động của họ. Được vay mượn từ nền văn minh Hoa Hạ rồi lắp ghép một cách chính xác vào tất cả những gì có thể để làm tăng thêm sức mạnh của mình, người Mông Cổ ở thế kỷ XIII đã có được những đạo kỵ binh hoàn hảo và những vũ khí đạt hiệu suất chiến đấu cao. Chỉ tính riêng về tổ chức quân sự, kỵ binh Mông Cổ cũng đã có một chất lượng hơn hẳn kỵ binh các nước Âu - Á thời trung đại. Nhưng điều rất cơ bản là trong khi tại khắp nơi, kỵ binh chỉ mới được sử dụng ở quy mô chiến thuật thì kỵ binh Mông Cổ đã được sử dụng ở quy mô chiến lược. Đây là bước phát triển mới về nghệ thuật quân sự. Theo quan điểm này, mà người đề xướng là Thành-cát-tư Hãn (1155-1227), kỵ binh được tổ chức thành các tập đoàn hội chiến lớn, kết hợp chặt chẽ giữa kỵ binh nặng và kỵ binh nhẹ. Nó vừa có sức đột kích mạnh, lại vừa có tính cơ động cao trong một không gian cực lớn và một thời gian rất dài. Kết quả cuối cùng của hơn 70 năm (1207-1279) chiến tranh, kỵ binh Mông Cổ đã lần lượt quật ngã các đội kỵ binh Đại Kim, Đại Tống ở châu Á và các đội kỵ binh Nga, kỵ binh Giéc-ma-ni và đội kỵ binh Tơ-tông nổi tiếng ở châu Âu, làm chủ một vùng đất bao la, trải dài từ bờ Hoàng Hải đến trung tâm châu Âu.
Tóm lại, nhờ sự ra đời của kỵ binh, binh chủng thứ hai sau bộ binh, các nhà quân sự thiên tài, như A-lếch-xăng Ma-xê-đoan ở châu Âu thời cổ đại và Thành-cát-tư Hãn ở châu Á thời trung đại, đã tổ chức, xây dựng và sử dụng nó vào chiến tranh và đã lập nên những chiến công hiển hách, đồng thời đưa nghệ thuật quân sự của loài người phát triển lên một bước mới trong thời đại vũ khí lạnh. Công lao đưa con ngựa làm bộ phận cấu thành của một binh chủng mới như vậy, trước hết thuộc về người châu Á. | |
Logged
|
|
|
|
ktqsvn Thành viên  Bài viết: 561  | 
| Từ cây giáo đến khẩu súng - Tập 1« Trả lời #4 vào lúc: 21 Tháng Chín, 2021, 06:55:52 am » | BỘ SẬU
Hiện nay, khi nói đến bộ máy làm việc của một cơ quan, một xí nghiệp, một nông trường... người ta thường dùng khẩu ngữ "bộ sậu". Từ này bắt nguồn từ đâu?
Theo định nghĩa của Từ điển tiếng Việt, "bộ sậu" là "tổng thể nói chung những người, những bộ phận làm thành một bộ máy nào đó. Bộ sậu lãnh đạo của nhà máy". Từ điển Hán - Việt lại giải thích "bộ sậu", theo nghĩa đen là "nước bước ngựa đi" và theo nghĩa bóng là "thứ tự làm việc". Cụ thể hơn, "bộ" là "bước, đi bộ" và "sậu" là "ngựa chạy mau, nhanh chóng, thình lình". Như vậy, theo nghĩa của hai phía, từ thuần Việt và từ gốc Hán, chúng ta có thể khái quát lại, "bộ" là "bước chân người" và "sậu" là "bước chân ngựa". Xét về quy mô trong lịch sử, qua ngôn ngữ, công việc mà rầm rập vang lên tiếng những "bước chân" người, ngựa như vậy, không thể nào khác là những hoạt động quân sự. Lịch sử quân sự lại ghi rõ bộ binh - "những lính đi bộ" - ra đời trước kỵ binh tới hàng ngàn năm. Cho nên, theo vị trí từ ngữ, "bộ" đặt trước, "sậu" để sau cũng là điều hợp lí. Theo ý đó, tiếng Việt còn có cặp từ "binh mã". Thật ra, cặp từ này chỉ có nghĩa là "người lính" và "con ngựa", những người và vật ở trạng thái tĩnh. Để phản ánh không khí sôi động của chiến trận, phải nói đến chân người đang đi, vó ngựa đang chạy. "Bộ sậu" đã thể hiện đúng nội dung đó với tư cách một thuật ngữ quân sự.
Để làm rõ hơn, chúng ta hãy tìm những dẫn chứng trong lịch sử quân sự cổ đại. Đối với tất cả các dân tộc, chỉ trừ những bộ lạc du mục, phần lớn quân đội, nếu như không phải toàn bộ, bao giờ cũng chỉ gồm có lính đi bộ. Đó là quân đội Ai Cập, quân đội Atsiri, quân đội Hi Lạp, La Mã cổ đại, quân đội các nước thời Tây Chu, thời Xuân Thu - Chiến Quốc ở Trung Quốc, quân đội nhà nước Văn Lang, Âu Lạc... Có thể nói rằng tới mấy chục thế kỉ, từ khi loài người có chiến tranh đến thế kỉ X, thời điểm kỵ binh trở thành "binh chủng chủ yếu của quân đội", mọi hoạt động chiến trận phần lớn đều được vận hành trên những "bước chân người". Đến thế kỉ XIV, vũ khí nóng được sử dụng phổ biến ở châu Âu và nhất là đến thế kỉ XVII, khi khẩu súng cầm tay được trang bị rộng rãi cho mọi chiến binh thì "bước chân người" càng có vai trò to lớn. Ở thế kỉ XX này, dù cho các phương tiện cơ động quân sự hiện đại trên bộ đã đạt tới vận tốc mấy trăm ki-lô-mét/giờ nhưng chúng cũng không phủ định nổi tốc độ chậm chạp với năm - bảy ki-lô-mét/giờ của những bước chân người lính bộ binh vì chính lực lượng này mới giữ vị trí then chốt trên chiến trường. Nếu không hiểu được như vậy thì không thấy hết giá trị lớn lao của những "bước chân người" chiến sĩ Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc trong cuộc 'Vạn lí trường chinh" vào những năm 30, không thấy hết công sức vô bờ của những người nông dân Việt Nam vác "gậy tầm vông" đi đánh giặc trong cuộc kháng chiến lâu dài chống thực dân Pháp cũng như không thấy hết tầm vóc vĩ đại của sự nghiệp "xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước" của nhân dân ta trong cuộc chiến tranh chống đế quốc Mỹ.
Trở lên trên là tìm hiểu về "bước chân người”, bây giờ chúng ta chuyển sang "bước chân ngựa". Nếu như đã khẳng định rằng kỵ binh ra đời sau bộ binh hàng ngàn năm thì lịch sử cũng không thể phủ định được sự có mặt của con ngựa trong nhiệm vụ kéo xe chiến bên cạnh người lính bộ binh. Về nội dung này, Ph.Ăng-ghen đã từng nhận xét: "Trong các quân đội của thế giới cổ đại thì quân đội Ai Cập là quân đội đầu tiên mà chúng ta có được ít nhiều tư liệu đáng tin cậy... Bộ binh sử dụng rất nhiều chiến xa". Còn Atsiri là nước đã cung cấp cho chúng ta một hình ảnh sớm nhất về các quân đội châu Á. Các cỗ xe chiến hãy còn là một thành phần quan trọng của quân đội. Ở châu Âu, tình hình cũng tương tự, nghĩa là trong quân đội Hi Lạp ở thời vinh quang của nó như Hô-me đã mô tả - kỵ binh vẫn còn là một điều chưa biết đến. Các quý tộc và các thủ lĩnh đang còn chiến đấu trên những cỗ xe chiến. Ở Trung Quốc, lịch sử thời cổ đại cũng đã từng lấy số lượng nhiều ít chiến xa để đánh giá sức mạnh quân sự của các quốc gia, ví như nước của Thiên tử có "vạn thặng" (mười ngàn cỗ xe chiến), nước của chư hầu lớn có "thiên thặng” (một ngàn cỗ xe chiến). Thế nhưng cũng phải thấy rằng, bên cạnh "bước chân người", chỉ khi "bước chân ngựa kéo" được chuyển thành "bước chân ngựa cưỡi", nghĩa là khi kỵ binh thay xe chiến làm lực lượng đột kích thì hoạt động quân sự mới tạo được những bước chuyển biến mạnh mẽ. Vì vậy, trong lịch sử quân sự, người ta thường nhắc đến hai cuộc viễn chinh cực kì to lớn, được tiến hành bằng lực lượng kỵ binh ở quy mô toàn thế giới. Đó là những cuộc "chiến tranh chữ Thập" nhằm đi xâm chiếm thuộc địa về phía Đông của các nước phong kiến Tây Âu, của các chế độ hiệp sĩ, của các thành phố thương mại ở Italia vào thế kỉ XI-XIII, dưới lá cờ Ki-tô giáo nhằm giải phóng những vật linh thiêng của Thiên chúa ở Jérusalem và giải phóng những vùng "đất thánh" khác khỏi chính quyền Hồi giáo. Đó là cuộc chiến tranh chinh phạt tàn khốc, mang đầy máu và nước mắt, kéo dài 72 năm (1207-1279) của kỵ binh Mông Cổ đi đánh chiếm lãnh thổ của 40 quốc gia Âu - Á, chạy suốt từ Hoàng Hải, trên bờ Tây Thái Bình Dương, đến tận thành phố Viên, thủ đô nước Áo ở trung tâm châu Âu.
Tóm lại, "bộ sậu" là một từ gốc Hán, vốn là một thuật ngữ quân sự, phản ánh những hoạt động đấu tranh vũ trang của hai lực lượng tiêu biểu là "người lính" và "con ngựa" thông qua các biểu tượng "bước chân người" và "bước chân ngựa”. Dần dần theo thời gian, các lực lượng đó bị "dân sự hóa" trong nếp suy nghĩ của mọi người và ngày nay, "bộ sậu" chỉ còn có nghĩa là bộ máy hoạt động nói chung mà không mang theo tính quân sự nửa. | |
|
|