NGỜI SÁNG VĂN HÓA QUÂN SỰ VIỆT NAM
Lâu nay, đã có nhiều công trình, bài viết bàn về sự thất bại của quân Mãn Thanh trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam cuối thế kỷ XVIII như: do tính chất phi nghĩa của cuộc chiến tranh, do tính kiêu ngạo của viên chủ tướng đạo quân viễn chinh... Bài viết này muốn đề cập đến một khía cạnh khác: sự thảm bại về một kiểu chiến lược quân sự của quân xâm lược Mãn Thanh: Chiến lược cơ động.
Chiến lược cơ động là gi? Đó là một hình thức chiến lược quân sự có nguồn gốc từ châu Âu. Ở châu lục này, từ thế kỷ XVII đã diễn ra quá trình thành lập các quân đội đánh thuê. Đối với loại quân đội như thế, cơ quan chỉ huy chiến lược thường không thể đặt ra những nhiệm vụ tác chiến kiên quyết. Bởi vậy, mục đích, mục tiêu của tác chiến chiến lược không chỉ là lực lượng quân đội mà còn là đất đai đối phương. Người ta coi thắng lợi cao nhất của chiến lược quân sự là chiếm lĩnh được lãnh thổ mà không cần phải tiến hành các hội chiến lớn, bắt buộc quân đội địch phải rút lui bằng cách chiếm đóng các đường giao thông vận chuyển, uy hiếp các căn cứ, kho tàng của đối phương1 (Bách khoa toàn thư quân sự Liên Xô, Nxb Quân đội nhân dân, H.1985, tuyển dịch, t.1, tr.120).
Giữa nguồn gốc chiến lược cơ động của phương Tây và sự hình thành chiến lược này của Trung Quốc lúc bấy giờ chưa rõ có mối quan hệ nào không? Thế nhưng, trong điều kiện lịch sử của chế độ phong kiến đương thời trên phạm vi toàn thế giới, một nhà nước thống trị ngoại bang, như triều đình Mãn Thanh, khi tổ chức cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, mà công cụ tiến hành là một đạo quân gồm hầu hết những binh sĩ được tuyển mộ từ những công dân người Hán đang bị chính người Mãn Thanh nô dịch - ở đây, mâu thuẫn giai cấp đang chồng lên mâu thuẫn dân tộc - thì làm sao có thể đi tới kết quả, với nhiệm vụ tác chiến kiên quyết, nếu không sử dụng đến kiểu chiến lược cơ động.
Để tìm hiểu về kiểu chiến lược này, chúng ta hãy đi sâu vào nội dung của sự chỉ đạo chiến tranh và thực hiện bằng những hoạt động tác chiến trên chiến trường.
Về sự chỉ đạo chiến tranh, khi giao nhiệm vụ cho đạo quân xâm lược, chỉ dụ của Càn Long - hoàng đế nhà Thanh - nhấn mạnh: "... Cứ từ từ, không gấp vội. Trước hết hãy truyền hịch để gây thanh thế, sau cho bọn cựu thần nhà Lê về nước tìm tự quân nhà Lê đưa ra đương đầu đối địch với Nguyễn Huệ. Nếu Nguyễn Huệ bỏ chạy thì cho Lê tự quân đuổi theo, mà đại quân của ta thì đi tiếp sau. Như thế, không khó nhọc mà thành công, đó là thượng sách.
Nếu như người trong nước, một nửa theo về Huệ mà Huệ không chịu rút quân thì phải chờ thủy quân Mân, Quảng1 (Mân là Phúc Kiến; Quảng là Quảng Đông) vượt biển, đánh vào Thuận, Quảng2 (Thuận là Thuận Hóa; Quảng là Quảng nam) trước, sau đó lục quân của Tôn Sĩ Nghị mới tiến công. Cả hai mặt, đằng trước đằng sau, Nguyễn Huệ đều bị đánh, tất phải qui phục. Ta nhân đó giữ cả hai. Từ Thuận, Quảng vào Nam thì cắt chia cho Nguyễn Huệ. Từ Hoan, Ái1 (Hoan là Nghệ An; Ái là Thanh Hóa), trở ra thì phong cho họ Lê. Mà ta thì đóng đại quân ở nước ấy để kiềm chế. Về sau sẽ có cách xử trí khác"2 (Đại Nam chính biên liệt truyện, sơ tập, quyển 30, tờ 35).
Nếu sự chỉ đạo của Càn Long được triển khai thì sẽ dẫn tới hai trường hợp. Nếu quân Cần Vương nhà Lê tổ chức đánh quân Tây Sơn nhưng không thắng nổi quân Tây Sơn thì nhà Thanh buộc phải từ bỏ giấc mộng xâm lăng. Còn nếu chúng cứ liều lĩnh cho quân thủy, bộ từ hai mặt tiến đánh, thì dù không thắng được và bị tổn thất nhiều, cũng không đến nỗi bị tiêu diệt gọn và nhanh, như đã diễn ra trong lịch sử. Ở đây, chúng ta thấy Càn Long rất chủ quan, không biết người, biết ta, luôn luôn hợm hĩnh, cứ ngỡ là mình mạnh, có thể dùng quân đội đứng đằng sau gây thanh thế nhằm răn đe, kiềm chế, nhưng lại thường xuyên né tránh tác chiến, né tránh đổ máu, mà mưu dùng người Việt đánh người Việt, dùng quân Cần Vương nhà Lê chống lại quân Tây Sơn, để rồi từ đó giành lấy thành quả. Đó chính là đặc điểm trong chiến lược cơ động của Càn Long.
Nhằm đảm bảo chắc thắng cho cuộc chiến tranh xâm lược, hai trong tám "kỳ" - đơn vị kỵ binh chủ lực, chừng một vạn kỵ thủ người Mãn - tức 25% lực lượng vũ trang quốc gia, được điều động. Bên cạnh đó còn có bộ binh chủ lực và bộ binh địa phương thuộc bốn tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây, Vân Nam, Quý Châu và lính "nghĩa dũng" thuộc các dân tộc ít người ở Điền Châu, Triều Châu. Trong dự kiến của Càn Long còn có cả lực lượng thủy quân hai tỉnh Phúc Kiến và Quảng Đông. Tôn Sĩ Nghị, Tổng đốc Lưỡng Quảng (Quảng Đông - Quảng Tây) được cử làm Chinh Man đại tướng quân, thống lĩnh toàn khối lục quân 29 vạn người.
Ở trên, chúng ta đã tìm hiểu về sự chỉ đạo chiến tranh, còn việc thực hiện bằng những hành động tác chiến trên chiến trường của Tôn Sĩ Nghị như thế nào? Sau khi nhận được ấn kiếm chỉ huy, viên chủ tướng họ Tôn nghiên cứu tình hình và biết rõ quân đội Tây Sơn rất tinh nhuệ, quân Cần Vương ô hợp của nhà Lê không đủ sức thắng nổi. Nhưng ông ta lại đinh ninh rằng sẽ đánh bại Nguyễn Huệ một cách dễ dàng nên đã dâng sớ tâu trình lên hoàng đế, nêu ra những điều kiện thuận lợi và cần thiết phải tiến quân ngay vào Thăng Long: "Vâng lời thượng dụ: chỉ nên làm thanh viện cho họ, để họ tự lo lấy, không cần phải dấy quân, làm to chuyện. Kính tuân theo thánh chỉ ấy, thần đã tra xét kỹ càng các nơi đường sá qua lại, từ đài Chiêu Đức đến đô thành nước họ, quân đi chẳng qua chỉ mất sáu ngày, ở Lạng Sơn hơi có lam chướng. Qua khỏi đó, thủy thổ đều tốt lành. Đại quân tiến lên đóng ở La Thành1 (La Thành tức Thăng Long) vừa không nóng nực lại không có lam chướng, vả lại cũng cần diễu võ dương oai, phô trương thanh thế của quân ta ở đấy, để cho giặc biết là không thể địch nổi. Rồi sau đó mới sai phái các quân ứng nghĩa của nước họ tự đi đánh dẹp lấy. Quân ta sẽ không đến nỗi phải vấy máu mũi gươm, mà quân giặc đều bị bắt giết. Như vậy công trạng hẳn chóng thành"1 (Ngô Gia văn phái, Hoàng Lê nhất thống chí, Nxb Văn học, H. 1970, tr.330-331).
Nếu như nói rằng chiến lược quân sự của Càn Long rất chủ quan thì cấp dưới của ông ta còn chủ quan hơn nhiều. Do nóng lòng muốn chiếm đóng Việt Nam ngay, hoàng đế Mãn Thanh đã chuẩn y và hạ lệnh cho Tôn Sĩ Nghị đưa quân vượt qua biên giới. Những hành động quân sự trên chiến trường được chia thành hai giai đoạn: giai đoạn thứ nhất, 22 ngày, từ ngày 25 tháng 11 năm 1788, khi binh lính Mãn Thanh rời Quảng Tây, đến ngày 17 tháng 12 năm 1788, khi tiến đến Thăng Long. Giai đoạn thứ hai, 46 ngày, từ ngày 17 tháng 12 năm 1788 đến ngày 31 tháng 1 năm 1789, khi chúng bị đánh tan ở Ngọc Hồi và Thăng Long. Hai giai đoạn này cũng tương ứng với hai giai đoạn tác chiến của quân Tây Sơn: giai đoạn rút lui, tạo thế và giai đoạn phản công, giáng đòn quyết định.
Giai đoạn thứ nhất nổi lên hai đặc điểm. Thứ nhất là quân Mãn Thanh đã chiếm được một vùng đất ở Bắc Hà và kinh thành Thăng Long trong một thời gian rất ngắn mà không phải tiến hành một trận đánh lớn nào. Những trận đánh của Phan Văn Lân ở vùng Thị Cầu chỉ có tác dụng ngăn chặn, làm chậm bước tiến của địch để quân ta đủ thời gian rút khỏi Bắc Hà. Khi đến Thăng Long, hầu như 29 vạn quân xâm lược vẫn còn nguyên vẹn. Từ thành tích đó, được Càn Long khen thưởng và bị Nguyễn Huệ dùng thư trá hàng khích động, Tôn Sĩ Nghị càng kiêu ngạo hơn. Ông ta cho rằng hành động của mình là duy nhất đúng vì đã được kiểm chứng. Bây giờ hãy cứ phô trương thanh thế để răn đe và "cứ từ từ, không gấp vội", nghỉ ngơi đã, muốn tiến công lúc nào cũng được. Điều đó hoàn toàn do mình. Suy nghĩ đó đã dẫn đến đặc điểm thứ hai: dừng tác chiến, tiến hành phòng ngự tạm thời. Gọi là "tạm thời" vì quân xâm lược đang ở đội hình tiến công. Đội hình phòng ngự được bố trí thành bốn khối quân lớn: một khối ở Bắc sông Hồng, một khối ở Nam sông Hồng, một khối ở Hải Dương và một khối ở Sơn Tây. Khối chủ yếu là ở phía Nam sông Hồng, khoảng 20 vạn quân, bao gồm hai tập đoàn lớn. Tập đoàn thứ nhất là chủ lực làm mũi nhọn, đóng tại Ngọc Hồi, quân số khoảng 11 vạn, là những đơn vị tinh nhuệ nhất. Tập đoàn thứ hai là lực lượng cơ bản, đóng tại Thăng Long cùng với Tổng hành dinh. Bên cạnh là các đơn vị "nghĩa dũng" đóng tại Khương Thượng. Tuy rằng cách bố trí như trên chứng tỏ Tôn Sĩ Nghị đã có tính toán, nhưng nhìn chung vẫn là thế trận của một quân đội nghỉ ngơi. Nhưng điều sai lầm nghiêm trọng nhất chính là sau khi chuyển từ thế tiến công sang thế dừng tác chiến, tiến hành phòng ngự tạm thời, Tôn Sĩ Nghị đã đánh giá quá thấp đối phương, nên đã tự để mất quyền chủ động chiến lược và sa vào thế bị động. | |
Logged
|
|
|
|
ktqsvn Thành viên  Bài viết: 561  | 
| Từ cây giáo đến khẩu súng - Tập 2« Trả lời #2 vào lúc: 27 Tháng Giêng, 2022, 07:42:29 am » | Những đặc điểm của giai đoạn thứ nhất đã dẫn đến những đặc điểm của giai đoạn thứ hai: bị động và bất ngờ. Một quân đội không giành được quyền chủ động và luôn bị bất ngờ trong tác chiến thì chỉ là một cơ thể sống nhưng không có linh hồn. Như trên đã nói, dừng tác chiến, tổ chức phòng ngự tạm thời là rơi vào thế bị động. Thể hiện rõ nhất điều đó là bị động về phương an tác chiến. Nghiêm túc mà nói, khi bố trí đội hình, Tôn Sĩ Nghị cũng đã suy nghĩ kĩ đến việc tiến quân xuống phía Nam. Lúc đó, đội hình sẽ chia thành ba hướng. Lực lượng Lưỡng - Quảng sẽ theo triền sông Hồng xuống Vị Hoàng. Lực lượng "nghĩa dũng" Điền Châu, Triền Châu sẽ theo đường chính, qua Văn Điển xuống Gián Thủy. Lực lượng Vân - Quí sẽ từ Sơn Tây theo đường Chương Đức tiến xuống. Tam Điệp sẽ là nơi hội quân để rồi tất cả cùng công kích đối phương. Thế nhưng, cách tính toán của Tôn Sĩ Nghị hoàn toàn thiên về việc hành quân tác chiến ở xa mà không mảy may nghĩ đến phương án tác chiến ngay trên địa bàn đang trú quân. Với tư tưởng chủ quan, khinh địch, xem đối phương "như hạng trâu, dê", ông ta chỉ nghĩ đến việc đánh người, muốn đánh lúc nào cũng được, mà không nghĩ đến nơi đến chốn trường hợp bị đối phương đánh trả. Chính vì vậy, quân Mãn Thanh đã bị động cả về thời gian lẫn không gian tác chiến. Ông ta dự định xuất quân vào mồng 6 tháng giêng âm lịch, nhưng chiến sự lại diễn ra trước đó, đúng ngay vào dịp Tết, khi quân lính dưới quyền đang thỏa thích chơi bời. Ông ta dự kiến chiến địa sẽ là vùng Thuận - Quảng như đã từng lớn tiếng với Nguyễn Huệ: "Về Thuận Hóa chờ phân xử". Nhưng thực tế chiến sự lại diễn ra ngay, tại Thăng Long, thậm chí còn len lỏi đến tận phòng ngủ của viên chủ tướng. Ở đây có điều đáng nói là việc dừng tác chiến để quân lính nghỉ ngơi, phè phỡn quá lâu, tới 46 ngày, khiến cho tinh thần chiến đấu giảm sút, quân đội không còn sức mạnh, phương án tác chiến lại không rõ ràng, thì làm sao có thể chống đỡ nổi một khi bị tiến công. Chính vì không có phương án tác chiến cụ thể nên trước đòi hỏi của tình hình thực tế, Tôn Sĩ Nghị buộc phải "vá víu" lại để đối phó. Ví như ông ta phải đồng ý để vua tôi nhà Lê đưa một số lính bản bộ từ Sơn Tây xuống Gián Thủy, lập một đồn tiền tiêu, làm nhiệm vụ "che chân phía trước" cho quân đội Thiên triều. Và khi được tin đối phương chuẩn bị tiến ra Bắc Hà, Tôn Sĩ Nghị mới vội vã tăng cường lực lượng, củng cố lại các vị trí xung yếu, cử phó tướng Hứa Thế Hanh xuống trực tiếp chỉ huy đồn Ngọc Hồi. Nhưng mọi việc làm của ông ta ở thời điểm này đã tỏ ra quá muộn. Đó chỉ là sự phòng thủ thụ động, sự chờ đợi để đỡ đòn khi đối phương mang quân tới tiến công.
Như đã trình bày, Tôn Sĩ Nghị luôn tin rằng có thể dễ dàng đánh bại đối phương, rằng đối phương sợ hãi, không dám đánh lại vì sự "diễu võ dương oai, phô trương thanh thế". Nhưng trên thực tế thì hoàn toàn không như thế. Ông ta không biết rằng bản thân đang ở thế bị động, thế bị đối phương điều khiển. Ngay cả chiến thắng lớn của ông ta ở giai đoạn đầu cũng là cách "nhử địch vào sâu" của quân Tây Sơn để chuẩn bị giáng đòn vào giai đoạn sau. Bởi thế, khi nhận được tín hiệu sắp sửa bị tiến công thì ông ta hoàn toàn bị bất ngờ. Sự bất ngờ ngày càng tăng. Lần thứ nhất (18-1-1789) được tin Nguyễn Huệ đang tuyển quân ở Thanh Hóa - Nghệ An và chuẩn bị tiến ra Bắc Hà, tuy có ngỡ ngàng nhưng Tôn Sĩ Nghị vẫn bình tĩnh tìm cách đối phó. Lần thứ hai (29-1-1789), tin quân Tây Sơn đã chiếm Hạ Hồi và chuẩn bị công kích Ngọc Hồi khiến ông ta bắt đầu hoảng hốt và lập tức cho quân tăng viện mặt trận phía Nam và chờ tin Ngọc Hồi. Lần thứ ba (đêm 29 rạng sáng 30-1-1789), mọi sự chú ý của Tôn Sĩ Nghị đang hướng về phía có chiến sự thì đột nhiên tiếng súng nổ ngay tại cung Tây Long. Sự bất ngờ quá đỗi này khiến viên tướng họ Tôn hoang mang đến cực độ và không có con đường nào khác là phủ định chức vụ "Chinh Man đại tướng quân" bằng cách lên ngựa tháo chạy, mặc cho quân lính tan tác và mặc cho số phận bi đát của cuộc chiến tranh xâm lược do chính ông ta chỉ huy và chịu trách nhiệm.
Về phía Nguyễn Huệ, lúc này đang ở Phú Xuân, ông nhận được tin cấp báo sau bốn ngày kể từ khi quân Mãn Thanh vào Thăng Long (tức ngày 21-12-1788). Ngay ngày hôrn sau, Nguyễn Huệ ra lệnh tiến đánh quân xâm lược. Cuộc hành quân chiến đấu bắt đầu. Thật ra, từ bốn tháng trước đó, ông đã nghe báo cáo về tình hình quân Mãn Thanh chuẩn bị binh mã. Thế nhưng vào lúc ấy, tình hình Gia Định cũng chưa yên ổn. Vùng đất này có nguy cơ rơi vào tay Nguyễn Ánh. Nguyễn Huệ chưa thể tiến quân ngay vào đấy được mà phải chờ cho tình hình thật chín muồi mới quyết định phương hướng tiến quân vào Nam hay ra Bắc. Nếu quân Thanh xâm phạm bờ cõi, thì trước nguy cơ mất nước, ưu tiên cao nhất là phải đưa gấp lực lượng ra Bác, nhanh chóng đánh tan quân xâm lược rồi mới tính đến việc đối phó với quân của Nguyễn Ánh.
Chính từ mục đích chính trị và tính chất của cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc mà quân đội Tây Sơn, với tư cách quân đội dân tộc, phải thực hiện một chiến lược tiến công kiên quyết về tính chất và được biểu hiện thành chiến lược "thần tốc" về thời gian. Yêu cầu đặt ra là phải đánh nhanh, giải quyết nhanh, đánh cho quân xâm lược không kịp trở tay. Vấn đề đặt ra cho cuộc tiến quân ra Bắc là phải tiến hành một tổng hội chiến tiêu diệt lớn, chứ không chỉ dừng lại ở hành động răn đe hay vây hãm để làm kẻ thù dần dần mỏi mệt. Nhờ chủ trương chiến lược tiến công kiên quyết như vậy, mà những năm trước đó, Nguyễn Huệ đã liên tiếp giành thắng lợi suốt từ trong Nam ra đến ngoài Bắc.
Bước vào cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc năm 1789, quân đội Tây Sơn dưới sự chỉ huy linh hoạt của Nguyễn Huệ, trải qua 18 năm chinh chiến gian lao, đã trưởng thành vượt bậc, không chỉ điêu luyện về đánh vận động mà còn thành thục cả đánh công kiên. Đó là điều mà quân xâm lược không nhận thức được. Đối với chúng, Ngọc Hồi là niềm kiêu hãnh so với toàn bộ các cứ điểm đóng quân khác và được xem như một vị trí "thách thức" đối phương. Nhưng chính điểm "rắn" đó lại được Nguyễn Huệ chọn làm nơi đột phá quyết định thắng lợi cho toàn cuộc chiến bằng kiểu công kích độc đáo chưa từng có trong lịch sử quân sự thế giới đương thời. Nó nằm ngoài bốn kiểu công kích ở châu Âu - cũng là ở trên phạm vi toàn thế giới - tính đến cuối thế kỉ XIX như Ph.Ăng-ghen từng nhận xét. Nó cũng không bố trí theo kiểu "trận đồ bát quái" quen thuộc của người Hán. Nội dung kiểu công kích này là: Tiến công phía trước kết hợp vu hồi phía sau. Đó là một kiểu công kích khác biệt, sáng tạo. Nó vừa mang theo phương pháp tác chiến kết hợp chính - kì phương Đông cổ xưa của vũ khí lạnh, lại vừa mang theo phương pháp tác chiến của đội hình giãn thưa kết hợp khối dọc của những người lính bộ binh sử dọng hỏa khí nòng trơn lúc bấy giờ. Nó còn là một kiểu công kích vừa thắm đượm bản sắc tư tưởng tiến công theo truyền thống đánh giặc giữ nước của dân tộc, lại vừa thể hiện rõ rệt tư tưởng đánh tiêu diệt ở đỉnh cao của thiên tài quân sự Nguyễn Huệ. Không những thế, các cánh quân vu hồi - ngôn ngữ của Tôn Tử gọi là "kì" - lại được cài lồng vào nhau, tạo thành thế trận "vây đơn, vây kép, vây ngoài, vây trong", phía cạnh sườn kết hợp phía sau lưng, phía bên phải kết hợp phía bên trái. Ví như công kích Ngọc Hồi, có vu hồi gần ở Đầm Mực, vu hồi xa ở Thăng Long; công kích khối quân địch ở phía bờ Nam sông Hồng, có vu hồi gần ở Hải Dương, vu hồi xa ở Phượng Nhãn; các cánh vu hồi lại có phía trái vào Đầm Mực, ra Thăng Long, có phía phải đến Hải Dương, lên Phượng Nhãn. Tất cả mọi cánh quân đã tạo ra cho thế trận một chiều sâu lớn, một vòng vây chặt, khiến 29 vạn quân xâm lược Mãn Thanh - nhất là khối 20 vạn quân phía bờ Nam sông Hồng - bị đập tan trong một thời gian kỉ lục, chỉ vẻn vẹn có năm ngày đêm. Giá như không bị đợt gió mùa đông - bắc tràn về, làm chậm tốc độ cơ động của cánh thủy quân vu hồi của đại đô đốc Lộc thì Tôn Tổng đốc Lưỡng Quảng khó mà toàn thân về nước.
Tóm lại, chiến lược cơ động của quân Mãn Thanh trong cuộc chiến tranh xâm lược năm 1789, dù có mĩ miều "tô son, trát phấn", có khuếch trương thanh thế, qui mô thì thực chất cũng chỉ là sản phẩm của giai cấp phong kiến thống trị đang suy tàn mà phương tiện thực hiện là một đạo quân, bao gồm những người lính kém phẩm chất, thiếu tinh thần chiến đấu. Bởi vậy, khi chiến lược đó đụng độ với chiến lược quân sự tiến công kiên quyết của một dân tộc có truyền thống đánh giặc giữ nước lâu đời, với một quân đội thiện chiến, bao gồm những chiến sĩ hết lòng vì Tổ quốc, lại vừa được giải phóng thì sự thất bại của quân xâm lược cũng là điều hiển nhiên. Đến nay, hơn 210 năm đã trôi qua, nhìn lại lịch sử chiến tranh yêu nước hào hùng của dân tộc, giới sử học quân sự cho rằng chiến thắng Ngọc Hồi - Đống Đa nói riêng, chiến thắng quân Mãn Thanh năm 1789 nói chung, vẫn được xem là một ngôi sao ngời sáng của văn hóa quân sự Việt Nam. |
|
|