Từ cây giáo đến khẩu súng - Tập 2
Sau khi "TỪ CÂY GIÁO ĐẾN KHẨU SÚNG" TẬP I đến tay bạn đọc (5-1998), tác giả đã nhận được khá nhiều ý kiến động viên. Ai nấy đều cho rằng từ một góc nhìn mới lạ, cuốn sách đã phần nào phát hiện được những thông tin hấp dẫn, thiết thực và bổ ích; đồng thời khuyến khích người viết phát huy hơn nữa khả năng ngòi bút của mình theo hướng công việc đang làm. Đáp lại sự cổ vũ nhiệt tình đó, "TỪ CÂY GIÁO ĐẾN KHẨU SÚNG" TẬP II được ra đời. Tiếp tục những nội dung của tập trước, tập này hình thành theo hai
NGỜI SÁNG VĂN HÓA QUÂN SỰ VIỆT NAM
Lâu nay, đã có nhiều công trình, bài viết bàn về sự thất bại của quân Mãn Thanh trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam cuối thế kỷ XVIII như: do tính chất phi nghĩa của cuộc chiến tranh, do tính kiêu ngạo của viên chủ tướng đạo quân viễn chinh... Bài viết này muốn đề cập đến một khía cạnh khác: sự thảm bại về một kiểu chiến lược quân sự của quân xâm lược Mãn Thanh: Chiến lược cơ động.
Chiến lược cơ động là gi? Đó là một hình thức chiến lược quân sự có nguồn gốc từ châu Âu. Ở châu lục này, từ thế kỷ XVII đã diễn ra quá trình thành lập các quân đội đánh thuê. Đối với loại quân đội như thế, cơ quan chỉ huy chiến lược thường không thể đặt ra những nhiệm vụ tác chiến kiên quyết. Bởi vậy, mục đích, mục tiêu của tác chiến chiến lược không chỉ là lực lượng quân đội mà còn là đất đai đối phương. Người ta coi thắng lợi cao nhất của chiến lược quân sự là chiếm lĩnh được lãnh thổ mà không cần phải tiến hành các hội chiến lớn, bắt buộc quân đội địch phải rút lui bằng cách chiếm đóng các đường giao thông vận chuyển, uy hiếp các căn cứ, kho tàng của đối phương1(Bách khoa toàn thư quân sự Liên Xô, Nxb Quân đội nhân dân, H.1985, tuyển dịch, t.1, tr.120).
Giữa nguồn gốc chiến lược cơ động của phương Tây và sự hình thành chiến lược này của Trung Quốc lúc bấy giờ chưa rõ có mối quan hệ nào không? Thế nhưng, trong điều kiện lịch sử của chế độ phong kiến đương thời trên phạm vi toàn thế giới, một nhà nước thống trị ngoại bang, như triều đình Mãn Thanh, khi tổ chức cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, mà công cụ tiến hành là một đạo quân gồm hầu hết những binh sĩ được tuyển mộ từ những công dân người Hán đang bị chính người Mãn Thanh nô dịch - ở đây, mâu thuẫn giai cấp đang chồng lên mâu thuẫn dân tộc - thì làm sao có thể đi tới kết quả, với nhiệm vụ tác chiến kiên quyết, nếu không sử dụng đến kiểu chiến lược cơ động.
Để tìm hiểu về kiểu chiến lược này, chúng ta hãy đi sâu vào nội dung của sự chỉ đạo chiến tranh và thực hiện bằng những hoạt động tác chiến trên chiến trường.
Về sự chỉ đạo chiến tranh, khi giao nhiệm vụ cho đạo quân xâm lược, chỉ dụ của Càn Long - hoàng đế nhà Thanh - nhấn mạnh: "... Cứ từ từ, không gấp vội. Trước hết hãy truyền hịch để gây thanh thế, sau cho bọn cựu thần nhà Lê về nước tìm tự quân nhà Lê đưa ra đương đầu đối địch với Nguyễn Huệ. Nếu Nguyễn Huệ bỏ chạy thì cho Lê tự quân đuổi theo, mà đại quân của ta thì đi tiếp sau. Như thế, không khó nhọc mà thành công, đó là thượng sách.
Nếu như người trong nước, một nửa theo về Huệ mà Huệ không chịu rút quân thì phải chờ thủy quân Mân, Quảng1(Mân là Phúc Kiến; Quảng là Quảng Đông) vượt biển, đánh vào Thuận, Quảng2 (Thuận là Thuận Hóa; Quảng là Quảng nam) trước, sau đó lục quân của Tôn Sĩ Nghị mới tiến công. Cả hai mặt, đằng trước đằng sau, Nguyễn Huệ đều bị đánh, tất phải qui phục. Ta nhân đó giữ cả hai. Từ Thuận, Quảng vào Nam thì cắt chia cho Nguyễn Huệ. Từ Hoan, Ái1(Hoan là Nghệ An; Ái là Thanh Hóa), trở ra thì phong cho họ Lê. Mà ta thì đóng đại quân ở nước ấy để kiềm chế. Về sau sẽ có cách xử trí khác"2(Đại Nam chính biên liệt truyện, sơ tập, quyển 30, tờ 35).
Nếu sự chỉ đạo của Càn Long được triển khai thì sẽ dẫn tới hai trường hợp. Nếu quân Cần Vương nhà Lê tổ chức đánh quân Tây Sơn nhưng không thắng nổi quân Tây Sơn thì nhà Thanh buộc phải từ bỏ giấc mộng xâm lăng. Còn nếu chúng cứ liều lĩnh cho quân thủy, bộ từ hai mặt tiến đánh, thì dù không thắng được và bị tổn thất nhiều, cũng không đến nỗi bị tiêu diệt gọn và nhanh, như đã diễn ra trong lịch sử. Ở đây, chúng ta thấy Càn Long rất chủ quan, không biết người, biết ta, luôn luôn hợm hĩnh, cứ ngỡ là mình mạnh, có thể dùng quân đội đứng đằng sau gây thanh thế nhằm răn đe, kiềm chế, nhưng lại thường xuyên né tránh tác chiến, né tránh đổ máu, mà mưu dùng người Việt đánh người Việt, dùng quân Cần Vương nhà Lê chống lại quân Tây Sơn, để rồi từ đó giành lấy thành quả. Đó chính là đặc điểm trong chiến lược cơ động của Càn Long.
Nhằm đảm bảo chắc thắng cho cuộc chiến tranh xâm lược, hai trong tám "kỳ" - đơn vị kỵ binh chủ lực, chừng một vạn kỵ thủ người Mãn - tức 25% lực lượng vũ trang quốc gia, được điều động. Bên cạnh đó còn có bộ binh chủ lực và bộ binh địa phương thuộc bốn tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây, Vân Nam, Quý Châu và lính "nghĩa dũng" thuộc các dân tộc ít người ở Điền Châu, Triều Châu. Trong dự kiến của Càn Long còn có cả lực lượng thủy quân hai tỉnh Phúc Kiến và Quảng Đông. Tôn Sĩ Nghị, Tổng đốc Lưỡng Quảng (Quảng Đông - Quảng Tây) được cử làm Chinh Man đại tướng quân, thống lĩnh toàn khối lục quân 29 vạn người.
Ở trên, chúng ta đã tìm hiểu về sự chỉ đạo chiến tranh, còn việc thực hiện bằng những hành động tác chiến trên chiến trường của Tôn Sĩ Nghị như thế nào? Sau khi nhận được ấn kiếm chỉ huy, viên chủ tướng họ Tôn nghiên cứu tình hình và biết rõ quân đội Tây Sơn rất tinh nhuệ, quân Cần Vương ô hợp của nhà Lê không đủ sức thắng nổi. Nhưng ông ta lại đinh ninh rằng sẽ đánh bại Nguyễn Huệ một cách dễ dàng nên đã dâng sớ tâu trình lên hoàng đế, nêu ra những điều kiện thuận lợi và cần thiết phải tiến quân ngay vào Thăng Long: "Vâng lời thượng dụ: chỉ nên làm thanh viện cho họ, để họ tự lo lấy, không cần phải dấy quân, làm to chuyện. Kính tuân theo thánh chỉ ấy, thần đã tra xét kỹ càng các nơi đường sá qua lại, từ đài Chiêu Đức đến đô thành nước họ, quân đi chẳng qua chỉ mất sáu ngày, ở Lạng Sơn hơi có lam chướng. Qua khỏi đó, thủy thổ đều tốt lành. Đại quân tiến lên đóng ở La Thành1(La Thành tức Thăng Long) vừa không nóng nực lại không có lam chướng, vả lại cũng cần diễu võ dương oai, phô trương thanh thế của quân ta ở đấy, để cho giặc biết là không thể địch nổi. Rồi sau đó mới sai phái các quân ứng nghĩa của nước họ tự đi đánh dẹp lấy. Quân ta sẽ không đến nỗi phải vấy máu mũi gươm, mà quân giặc đều bị bắt giết. Như vậy công trạng hẳn chóng thành"1(Ngô Gia văn phái, Hoàng Lê nhất thống chí, Nxb Văn học, H. 1970, tr.330-331).
Nếu như nói rằng chiến lược quân sự của Càn Long rất chủ quan thì cấp dưới của ông ta còn chủ quan hơn nhiều. Do nóng lòng muốn chiếm đóng Việt Nam ngay, hoàng đế Mãn Thanh đã chuẩn y và hạ lệnh cho Tôn Sĩ Nghị đưa quân vượt qua biên giới. Những hành động quân sự trên chiến trường được chia thành hai giai đoạn: giai đoạn thứ nhất, 22 ngày, từ ngày 25 tháng 11 năm 1788, khi binh lính Mãn Thanh rời Quảng Tây, đến ngày 17 tháng 12 năm 1788, khi tiến đến Thăng Long. Giai đoạn thứ hai, 46 ngày, từ ngày 17 tháng 12 năm 1788 đến ngày 31 tháng 1 năm 1789, khi chúng bị đánh tan ở Ngọc Hồi và Thăng Long. Hai giai đoạn này cũng tương ứng với hai giai đoạn tác chiến của quân Tây Sơn: giai đoạn rút lui, tạo thế và giai đoạn phản công, giáng đòn quyết định.
Giai đoạn thứ nhất nổi lên hai đặc điểm. Thứ nhất là quân Mãn Thanh đã chiếm được một vùng đất ở Bắc Hà và kinh thành Thăng Long trong một thời gian rất ngắn mà không phải tiến hành một trận đánh lớn nào. Những trận đánh của Phan Văn Lân ở vùng Thị Cầu chỉ có tác dụng ngăn chặn, làm chậm bước tiến của địch để quân ta đủ thời gian rút khỏi Bắc Hà. Khi đến Thăng Long, hầu như 29 vạn quân xâm lược vẫn còn nguyên vẹn. Từ thành tích đó, được Càn Long khen thưởng và bị Nguyễn Huệ dùng thư trá hàng khích động, Tôn Sĩ Nghị càng kiêu ngạo hơn. Ông ta cho rằng hành động của mình là duy nhất đúng vì đã được kiểm chứng. Bây giờ hãy cứ phô trương thanh thế để răn đe và "cứ từ từ, không gấp vội", nghỉ ngơi đã, muốn tiến công lúc nào cũng được. Điều đó hoàn toàn do mình. Suy nghĩ đó đã dẫn đến đặc điểm thứ hai: dừng tác chiến, tiến hành phòng ngự tạm thời. Gọi là "tạm thời" vì quân xâm lược đang ở đội hình tiến công. Đội hình phòng ngự được bố trí thành bốn khối quân lớn: một khối ở Bắc sông Hồng, một khối ở Nam sông Hồng, một khối ở Hải Dương và một khối ở Sơn Tây. Khối chủ yếu là ở phía Nam sông Hồng, khoảng 20 vạn quân, bao gồm hai tập đoàn lớn. Tập đoàn thứ nhất là chủ lực làm mũi nhọn, đóng tại Ngọc Hồi, quân số khoảng 11 vạn, là những đơn vị tinh nhuệ nhất. Tập đoàn thứ hai là lực lượng cơ bản, đóng tại Thăng Long cùng với Tổng hành dinh. Bên cạnh là các đơn vị "nghĩa dũng" đóng tại Khương Thượng. Tuy rằng cách bố trí như trên chứng tỏ Tôn Sĩ Nghị đã có tính toán, nhưng nhìn chung vẫn là thế trận của một quân đội nghỉ ngơi. Nhưng điều sai lầm nghiêm trọng nhất chính là sau khi chuyển từ thế tiến công sang thế dừng tác chiến, tiến hành phòng ngự tạm thời, Tôn Sĩ Nghị đã đánh giá quá thấp đối phương, nên đã tự để mất quyền chủ động chiến lược và sa vào thế bị động.


