Khác

Từ cây giáo đến khẩu súng - Tập 4

"Đúng hẹn lại lên", Từ cây giáo đến khẩu súng - tập IV lại vinh dự được ra mắt bạn đọc. Suốt trong ba tập trước và ngay đến tập này, nội dung các bài viết thường bao gồm những hiện tượng, những hành động cụ thể trong đấu tranh vũ trang và cả trong đấu tranh phi vũ trang. Bên cạnh đó, nội dung các bài viết còn gồm những thành ngữ, những thuật ngữ quân sự. Về thực chất, đấy là những biểu tượng văn hóa quân sự, hoặc là những hiện tượng, những thành ngữ đang trong quá trình văn hóa hóa, biểu tượng

Lai Châu03/07/2026Quân đội nhân dân (xã nậm mạ)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

SỨC MẠNH VĂN HOÁ LÀNG VÀ TÀI TRÍ KHÚC HẠO



Giành được quyền tự chủ cho đất nước sau hai năm (905 - 907) thì ngày 23 tháng 7 năm 907. Khúc Thừa Dụ qua đời, con trai là Khúc Hạo lên thay, tiếp tục giữ chức Tiết độ sứ. Nối nghiệp và nối chí cha, Khúc Hạo đã sáng suốt đề ra nhiều cải cách quan trọng trên các mặt: đối ngoại và đặc biệt là đối nội. Chính vì thế mà sau này, các nhà khoa học đã đánh giá ông là Nhà cải cách nền hành chính quốc gia đầu tiên ở Việt Nam. Lại cũng có ý kiến mệnh danh ông là Nhà lãnh đạo khoan, giản, an, lạc.


Về đối ngoại, ông vẫn duy trì một chính sách mềm dẻo của người tiền nhiệm nên sau đó, khi lên thay thế nhà Đường, nhà Lương cũng buộc phải tiếp tục công nhận ông làm An Nam đô hộ sung tiết độ sứ.

Về đối nội, ông tập trung cải cách và tăng cường những công tác nóng bỏng, cấp thiết để đáp ứng kịp thời những yêu cầu về quốc kế, dân sinh.

Thứ nhất, ông thực hiện cải cách hành chính quốc gia, ra sức chăm lo xây dựng một chính quyền thống nhất theo quy mô một nhà nước độc lập, tự chủ, từ cấp trung ương xuống tận cấp cơ sở là xã, trong đó, xã là nền tảng cơ bản nhất. Khúc Hạo chia hệ thống hành chính cả nước thành năm cấp: lộ, phủ, châu, giáp, xã. Mỗi xã có một chánh, nhân dân thường gọi là ông cai giáp và một tá lệnh trưởng cùng một số người giúp việc là các ông lềnh (từ chữ lệnh mà ra) bao gồm lềnh nhất, lềnh nhì, lềnh ba. Một số xã gần nhau, trước là hương, nay đổi thành giáp, có một quản giáp và một phó tri giáp trông nom việc quản lý hộ khẩu và thu thuế. Có thể xem đây là lần đầu tiên các làng xã chấp nhận sự quản lý của những xã quan do chính quyền trung ương cắt cử, điều mà suốt cả một ngàn năm Bắc thuộc, chính quyền đô hộ không bao giờ làm được.


Theo Cao Hùng Trưng, tác giả An Nam chí nguyên, Khúc Hạo đặt thêm 150 giáp, cộng với những giáp có trước thành cả thảy là 314 giáp. Ngay từ khi mới thành lập, chính quyền dân tộc tự chủ đã tỏ ra quan tâm đặc biệt đến việc tổ chức bộ máy cơ sở giáp và xã. Đó là những đơn vị hành chính xây dựng trên nền tảng kinh tế - xã hội vốn có của công xã nông thôn và nhằm quản lý công xã đó. Nếu đối chiếu với 159 hương thời Đường thì con số 314 giáp của chính quyền tự chủ mới giành được của họ Khúc đã có một bước phát triển mới.


Xét về mặt lý luận, tổ chức đời sống cộng đồng của một đất nước quan trọng nhất là trên ba lĩnh vực: tổ chức quốc gia, tổ chức nông thôn và tổ chức đô thị. Trong một quốc gia có cả nông thôn và đô thị, nhưng với một nền văn hoá nông nghiệp trồng lúa nước điển hình như Việt Nam thì tổ chức nông thôn lại là lĩnh vực quan trọng nhất. Điều đó chi phối cả truyền thống quốc gia lẫn tổ chức đô thị, cả diện mạo xã hội lẫn tính cách con người. Nắm vững những đặc thù của tổ chức nông thôn tức là nắm được chìa khoá trong việc tổ chức đời sống cộng đồng của người Việt Nam. Khi giải quyết công việc này. Khúc Hạo đã tỏ rõ là người có bản lĩnh.


Đánh giá về cải cách hành chính của ông. Phan Huy Chú, tác giả Lịch triều hiến chương loại chí đã viết: “Tổ chức hành chính của họ Khúc một phần nào sẽ là cơ sở cho tổ chức hành chính của các triều đại tự chủ sau này”.


Thứ hai là cải cách kinh tế - xã hội. Phần cải cách này bao gồm: việc xoá bỏ lực dịch, tức xoá bỏ chế độ bóc lột nặng nề của chính quyền đô hộ và việc đánh đồng thuế ruộng theo hộ khẩu mà không theo diện tích ruộng đất và xem đây là nguồn thu nhập chủ yếu của nhà nước.


Lực dịch là chế độ bóc lột dưới thời thuộc Đường, suốt ba trăm năm, tính từ đầu thế kỷ VII đến đầu thế kỷ X. Chế độ này gồm hai phần: phần cống nạp và phần thuế. Hằng năm, các châu, huyện thuộc An Nam phải cống nạp cho triểu đình Trường An nhiều lâm, thổ sản quý, nhiều sản phẩm thủ công... Bên cạnh đó, dân bản xứ còn phải nộp cho bọn quan lại đô hộ rất nhiều loại thuế như thuế nông sản, thuế hải sản...


Bước vào thời tự chủ, thể theo nguyện vọng nhân dân, Khúc Hạo xoá bỏ hoàn toàn lực dịch và chủ trương “bình quân thuế ruộng... lập sổ hộ khẩu, kê rõ họ tên, quê quán, giao cho Giáp trưởng trông coi”. Việc làm này vừa có ý nghĩa xác lập quyền sở hữu tối cao của chính quyền đối với đất đai cả nước, vừa có tác dụng rất lớn trong việc thúc đẩy sản xuất và đề cao tính ưu việt của nhà nước tự chủ. Bởi vì lúc bấy giờ, toàn bộ ruộng đất đều thuộc sở hữu chung của công xã, chưa có sở hữu tư nhân. Cùng với việc xoá bỏ lực dịch, chính sách bình quân thuế ruộng của Khúc Hạo đã làm giảm nhẹ mức độ bóc lột đối với nhân dân đồng thời xoá bỏ được mâu thuẫn phi lý do chính quyền đô hộ gây ra trước đó. Bằng cách này, chính quyền tự chủ đã khôi phục lại được vai trò và truyền thống công xã, thực hiện một phương thức đóng góp thích hợp và hiệu quả từ phía nhân dân đối với kết cấu kinh tế - xã hội của nhà nước dân tộc lúc bấy giờ, tạo nên sự hòa hợp thoả đáng trong một thể thống nhất giữa nhà nước với công xã, tức giữa - nước với làng, giữa làng với nước.


Chính sách tô thuê của Khúc Hạo lúc đương thời sở dĩ trở thành một chính sách nổi tiếng về mặt đối nội vì đã thu phục được lòng người. Chỉ có thể nhận thức và giải thích được điều ấy nếu hiểu rõ tổ chức giáp - xã được xây dựng trên nền tảng công xã nông thôn, một hình thức tổ chức xã hội và kinh tế cuối cùng của thời cổ đại. Tuy ra đời từ trong quá trình tan rã của chế độ công xã thị tộc nhưng cho đến thế kỷ X, công xã nông thôn vẫn còn chiếm ưu thế, còn ở giai đoạn thịnh trị và giữ vai trò hạ tầng cơ sở bền vững của xã hội Việt Nam mà đặc điểm quan trọng nhất là toàn bộ ruộng đất đều thuộc sở hữu công cộng. Chính vì vậy mà công xã nông thôn lúc ấy còn có một tên gọi khác là công xã ruộng đất.


Kế thừa từ người cha, đường lối chính trị của Khúc Hạo có thể tóm gọn trong một câu như Khâm định Việt sử thông giám cương mục đã viết: “Chính sự cốt chuộng khoan dung, giản dị, nhân dân đều được yên vui”. Từ nhận định đó, có thể nói rằng khoan, giản, an, lạc là nội dung chủ yếu của chiến lược chính trị ở buổi đầu thời tự chủ.


Khoan dung là không thắt buộc, khắt khe quá quắt đối với nhân dân như bọn tham quan ô lại đã từng gây thành một tệ nạn lớn dưới thời Bắc thuộc.

Giản dị là không phiền hà, nhũng nhiễu nhân dân bởi quá nhiều thủ tục hành chính quan liêu.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn