Từ chiến sĩ quyết tử đến người chỉ huy trong Chiến dịch Điện Biên Phủ

hượng tướng Vũ Lăng (1921 - 1988), tên thật là Nguyễn Văn Lăng, sinh tại Hà Nội. Ông trưởng thành trong thời kỳ đất nước đứng trước những biến động lớn, khi phong trào đấu tranh giành độc lập dân tộc phát triển mạnh mẽ và cách mạng Việt Nam bước vào giai đoạn chuẩn bị giành chính quyền.
Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời nhưng ngay lập tức phải đối mặt với nguy cơ chiến tranh khi thực dân Pháp quay trở lại xâm lược. Trong bối cảnh đó, Vũ Lăng là một trong những chiến sĩ Nam tiến đầu tiên lên đường vào chiến đấu tại mặt trận Nha Trang - Ninh Hòa.
Khi cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ, ông trở thành một trong những chiến sĩ quyết tử của Trung đoàn Thủ đô, tham gia chiến đấu bảo vệ Bắc Bộ phủ trong những ngày đầu Toàn quốc kháng chiến.
Ngày 19/12/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến, mở đầu cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp. Trong đội hình những người lính Thủ đô, Vũ Lăng trực tiếp tham gia các trận đánh bảo vệ Hà Nội, trải qua những ngày chiến đấu ác liệt trong điều kiện thiếu thốn về lực lượng và trang bị.
Ngày 14/1/1947, tại rạp Tố Như (nay là rạp Chuông Vàng), Vũ Lăng vinh dự đại diện cho những người lính tình nguyện tuyên thệ lời thề “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”. Lời thề ấy trở thành biểu tượng tinh thần của những chiến sĩ Thủ đô trong những ngày đầu kháng chiến.
Sau thời gian chiến đấu tại Hà Nội, Vũ Lăng tiếp tục trưởng thành qua các cương vị chỉ huy trong quân đội. Ông được giao làm Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 54, Trung đoàn Thủ đô (E102), Đại đoàn 308 - một trong những đơn vị chủ lực đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam.
Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, ông tiếp tục tham gia nhiều chiến dịch lớn, rèn luyện bản lĩnh chỉ huy và tích lũy kinh nghiệm thực tiễn chiến trường. Năm 1954, Vũ Lăng tham gia Chiến dịch Điện Biên Phủ trên cương vị Trung đoàn trưởng Trung đoàn 98, Đại đoàn 316. Đây là một trong những đơn vị chủ lực giữ vai trò quan trọng trong chiến dịch quyết chiến chiến lược này.
Tại cứ điểm đồi C1, một trong những vị trí phòng ngự kiên cố của quân Pháp ở Điện Biên Phủ, Trung đoàn 98 dưới sự chỉ huy của Vũ Lăng đã chiến đấu hết sức quyết liệt. Ông trực tiếp chỉ huy bộ đội từ chiến hào tiến công, nhiều lần tổ chức đánh giáp lá cà với quân Pháp trong điều kiện địa hình hiểm trở, hỏa lực đối phương mạnh và chiến đấu diễn ra vô cùng căng thẳng.
Chiến thắng Điện Biên Phủ ngày 7/5/1954 đã kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, mở ra bước ngoặt quan trọng trong lịch sử dân tộc. Sau Hiệp định Genève năm 1954, đất nước bước vào giai đoạn mới, Vũ Lăng tiếp tục được giao nhiều nhiệm vụ quan trọng trong quân đội, từng bước trưởng thành qua các cương vị chỉ huy.
Từ người làm công tác tham mưu đến vị tướng chỉ huy chiến dịch Tây Nguyên
Sau khi hòa bình lập lại ở miền Bắc, đầu năm 1956, Vũ Lăng được cử sang Liên Xô học tập tại Học viện cao cấp Bộ Tổng tham mưu mang tên Vô-rô-xi-lốp (Voroshilov). Trong thời gian học tập tại nước ngoài, ông cùng các đồng đội được trang bị những kiến thức quân sự hiện đại, nghiên cứu sâu về nghệ thuật chỉ huy, tổ chức lực lượng và phương pháp tác chiến của quân đội các nước.
Cuối năm 1959, sau khi hoàn thành chương trình học tập, ông trở về nước và được giao nhiệm vụ Cục phó Cục Nghiên cứu khoa học quân sự, Bộ Tổng tham mưu. Trong những năm đầu thập niên 1960, ông tiếp tục đảm nhiệm nhiều nhiệm vụ quan trọng trong công tác tham mưu, nghiên cứu và xây dựng lực lượng.
Giai đoạn 1965 - 1967, khi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước bước vào thời kỳ ác liệt, Vũ Lăng được Bộ Quốc phòng điều động giữ chức Phó Tư lệnh Quân khu 4. Trên cương vị này, ông cùng tập thể Bộ Tư lệnh Quân khu xây dựng các phương án tác chiến, tổ chức lực lượng chiến đấu chống lại các hoạt động đánh phá của không quân và hải quân Mỹ, bảo vệ tuyến giao thông chiến lược, giữ vững địa bàn quan trọng.
Bên cạnh nhiệm vụ chiến đấu, ông còn tham gia đào tạo, bồi dưỡng nhiều cán bộ chỉ huy, bổ sung lực lượng cho chiến trường miền Nam. Cuối năm 1967, thực hiện chủ trương kiện toàn đội ngũ cán bộ chỉ huy cao cấp và chuẩn bị các phương án tác chiến với quân Mỹ, Vũ Lăng được điều về Bộ Quốc phòng, lần lượt giữ chức Cục phó rồi Cục trưởng Cục Tác chiến, Bộ Tổng tham mưu.
Trên cương vị Cục trưởng Cục Tác chiến, ông trực tiếp tham gia xây dựng nhiều kế hoạch tác chiến quan trọng của quân đội, trong đó có các phương án chuẩn bị cho những chiến dịch lớn trong giai đoạn cuối cuộc kháng chiến chống Mỹ. Năm 1974, trước yêu cầu của chiến trường, Vũ Lăng được điều động vào giữ chức Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên.
Trên cương vị Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên, Vũ Lăng cùng tập thể Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Mặt trận nghiên cứu tình hình, xây dựng phương án tác chiến, chuẩn bị lực lượng và đề xuất những giải pháp phù hợp với yêu cầu chiến dịch.
Tháng 3/1975, ông giữ chức Phó Tư lệnh Chiến dịch Tây Nguyên, đồng thời là Tư lệnh Binh đoàn Tây Nguyên. Trong Chiến dịch Tây Nguyên, Vũ Lăng giữ vai trò quan trọng trong công tác chỉ huy, trực tiếp tham gia tổ chức lực lượng tiến công vào các mục tiêu then chốt, đặc biệt là trận đánh mở màn tại Buôn Ma Thuột. Buôn Ma Thuột được lựa chọn làm điểm đột phá chiến lược. Đây là quyết định có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, bởi việc giải phóng thị xã này sẽ tạo ra sự rung chuyển lớn trong hệ thống phòng thủ của quân đội Sài Gòn tại Tây Nguyên.
Ngày 10/3/1975, quân ta mở cuộc tiến công vào Buôn Ma Thuột. Sau những trận đánh quyết liệt, ngày 11/3, thị xã Buôn Ma Thuột được giải phóng. Chiến thắng Buôn Ma Thuột tạo bước ngoặt quan trọng, làm tan rã nhanh chóng hệ thống phòng thủ của đối phương tại Tây Nguyên, mở ra thời cơ chiến lược để quân ta phát triển tiến công trên toàn miền Nam.
Đồng đội luôn nhớ hình ảnh người chỉ huy Vũ Lăng nhỏ nhắn, đẹp trai, mắt sáng, râu quai nón. Những lúc chiến dịch căng thẳng, ông thường quên cạo râu. Bộ râu này, cùng với tính nóng nảy khiến ông có biệt danh “tướng Trương Phi”.
Sau thắng lợi của Chiến dịch Tây Nguyên, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 tiếp tục phát triển mạnh mẽ. Ngày 26/3/1975, Quân đoàn 3 được thành lập, Vũ Lăng được giao trọng trách Tư lệnh.
Trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử (từ ngày 26 đến 30/4/1975), Quân đoàn 3 do ông chỉ huy nhận nhiệm vụ tiến công theo hướng Tây Bắc, đường 22, đồng thời tổ chức lực lượng thọc sâu đánh chiếm sân bay Tân Sơn Nhất và Bộ Tổng tham mưu nguỵ.
Trước đó, trong mùa Xuân năm 1975, Quân đoàn 3 còn tham gia giải phóng các tỉnh Phú Yên, Khánh Hòa. Sau ngày đất nước thống nhất, đơn vị tiếp tục chiến đấu tại Mặt trận biên giới Tây Nam và tham gia giúp nhân dân Campuchia thoát khỏi chế độ diệt chủng Pôn Pốt. Năm 1979, Quân đoàn 3 được Nhà nước tuyên dương danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
Vị tướng dành nhiều tâm huyết cho nghiên cứu quân sự và đào tạo cán bộ
Sau ngày đất nước thống nhất, tướng Vũ Lăng tiếp tục đảm nhiệm những trọng trách quan trọng trong quân đội. Năm 1977, ông được giao nhiệm vụ Giám đốc, sau đó là Viện trưởng kiêm Bí thư Đảng ủy Học viện Lục quân Đà Lạt, giữ cương vị này đến năm 1988. Đây là một nhiệm vụ đặc biệt quan trọng trong giai đoạn xây dựng quân đội sau chiến tranh, khi yêu cầu đặt ra là đào tạo đội ngũ cán bộ chỉ huy có phẩm chất chính trị vững vàng, năng lực toàn diện, đồng thời có tư duy quân sự hiện đại.
Trên cương vị người đứng đầu Học viện Lục quân, ông chỉ đạo xây dựng hệ thống tài liệu huấn luyện với khối lượng lớn, phục vụ công tác đào tạo của 8 chuyên ngành binh chủng lục quân. Những tài liệu do Học viện xây dựng dưới sự chỉ đạo của ông được Hội đồng khoa học Học viện thông qua, góp phần quan trọng trong nghiên cứu, giảng dạy tại Học viện và các nhà trường quân đội.
Bên cạnh công tác giáo dục, đào tạo và nghiên cứu khoa học quân sự, ông Vũ Lăng còn quan tâm xây dựng Học viện trên nhiều mặt, trong đó chú trọng cải thiện đời sống cán bộ, giảng viên, nhân viên và chiến sĩ. Trong điều kiện kinh tế đất nước còn nhiều khó khăn, ông chủ trương đẩy mạnh tăng gia sản xuất, từng bước nâng cao đời sống vật chất cho cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị.
Ông Vũ Lăng là một trong những người đầu tiên được phong hàm Giáo sư Khoa học quân sự ở Việt Nam. Năm 1986, ông được phong quân hàm Thượng tướng.
Thượng tướng Vũ Lăng qua đời năm 1988. Ngày 8/12/2023, thừa ủy quyền của Chủ tịch nước, Quân đoàn 3 - Binh đoàn Tây Nguyên tổ chức Lễ truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân đối với Thượng tướng Vũ Lăng.



