TỪ CHIẾN TRƯỜNG MIỀN NAM ĐẾN NGƯỜI CHỈ HUY TRƯỞNG BAN CHỈ HUY QUÂN SỰ HUYỆN BÁT XÁT
Tháng 4 năm 1968, khi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đang bước vào giai đoạn ác liệt nhất, tại xã Hà Thạch, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ cũ, nay là phường Phong Châu, tinh Phú Thọ chàng thanh niên Ngô Quang Trung, sinh năm 1949, đã tình nguyện lên đường nhập ngũ. Ngày tiễn ông đi, con đường đất đỏ phủ sương sớm, mẹ già lặng lẽ dặn dò, còn người thanh niên trẻ chỉ kịp ngoái lại nhìn quê hương lần cuối, rồi hòa vào dòng người ra trận với niềm tin sắt đá: “Ra đi là để ngày trở về đất nước thanh bình.”
Sau thời gian huấn luyện khẩn trương và nghiêm ngặt, ông Ngô Quang Trung cùng đơn vị được lệnh hành quân vào chiến trường miền Nam, trực tiếp tham gia chiến dịch giải phóng miền Nam, chiến đấu tại mặt trận Đồng bằng sông Cửu Long một trong những địa bàn chiến lược, nơi địch bố trí nhiều căn cứ kiên cố, kiểm soát bằng hỏa lực mạnh và hệ thống sông ngòi dày đặc. Đồng bằng sông Cửu Long những năm ấy không chỉ là vùng đất trù phú của lúa gạo mà còn là chiến trường khốc liệt. Ban ngày, máy bay địch quần thảo, pháo kích liên hồi; ban đêm, các đơn vị giải phóng âm thầm bám trụ, luồn sâu vào vùng địch tạm chiếm. Người lính phải chiến đấu không chỉ với kẻ thù mà còn với sốt rét rừng, thiếu thốn lương thực, nước uống và cả những cơn mưa triền miên khiến súng đạn hoen gỉ, quần áo không lúc nào khô.
Trong một trận đánh quan trọng nhằm phá vỡ tuyến phòng thủ ven sông của địch, đơn vị của ông Trung được giao nhiệm vụ đặc biệt: bí mật vượt sông trong đêm, đánh chiếm một cứ điểm then chốt án ngữ đường tiếp tế của đối phương. Đó là một nhiệm vụ vô cùng nguy hiểm, bởi khu vực này bị địch canh phòng nghiêm ngặt, bố trí nhiều hỏa điểm đại liên và mìn dày đặc. Đêm xuống, mặt sông tối đen, chỉ nghe tiếng mái chèo khua nhẹ và nhịp thở gấp gáp của những người lính trẻ. Bất ngờ, pháo sáng của địch bắn lên xé toạc màn đêm, nước sông loang loáng ánh sáng trắng lạnh. Địch phát hiện đội hình, lập tức nã đạn dữ dội. Trước tình thế cấp bách, ông Trung, khi ấy là một chiến sĩ trẻ nhưng gan dạ, đã bình tĩnh bám sát chỉ huy, nhanh chóng cùng đồng đội tìm đường áp sát bờ, lợi dụng địa hình mương rạch, bờ lau sậy để tiến công.
Khi một mũi tiến công bị chặn lại trước hỏa lực mạnh của địch, ông Trung đã dũng cảm xung phong, cùng tổ chiến đấu đánh thẳng vào hỏa điểm nguy hiểm nhất. Dưới làn đạn dày đặc, ông vừa di chuyển vừa động viên đồng đội giữ vững đội hình. Có lúc, khoảng cách giữa ta và địch chỉ còn vài chục mét, tiếng súng, tiếng lựu đạn nổ hòa lẫn trong tiếng hò xung phong vang dội cả một khúc sông. Cuộc chiến giằng co suốt nhiều giờ liền. Nhiều đồng chí bị thương nhưng vẫn cắn răng bám trụ, quyết không rời trận địa. Đến gần sáng, khi địch hoang mang rút chạy, đơn vị ta hoàn toàn làm chủ cứ điểm. Lá cờ giải phóng được cắm lên trong ánh bình minh mờ sương, đánh dấu một thắng lợi quan trọng, góp phần mở thông tuyến hành lang chiến lược cho các lực lượng tiến công tiếp theo trong chiến dịch. Sau trận đánh ấy, ông Trung tiếp tục cùng đơn vị tham gia nhiều trận chiến khác trên chiến trường Đồng bằng sông Cửu Long, kiên cường bám đất, bám dân, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao cho đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, non sông thu về một mối.
Hòa bình lập lại, người lính năm xưa trở về quê hương nhưng tinh thần trận mạc vẫn vẹn nguyên. Với bản lĩnh, kinh nghiệm và uy tín được tôi luyện qua chiến tranh, ông Ngô Quang Trung sau này được giao trọng trách Chỉ huy trưởng Ban Chỉ huy Quân sự huyện Bát Xát (cũ), tiếp tục cống hiến cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thời bình. Những năm tháng chiến đấu hào hùng nơi chiến trường miền Nam đã trở thành ký ức không thể phai mờ trong cuộc đời cựu chiến binh Ngô Quang Trung. Đó không chỉ là câu chuyện của một người lính, mà còn là biểu tượng sinh động cho lòng yêu nước, tinh thần quả cảm và sự hy sinh thầm lặng của cả một thế hệ đã hiến dâng tuổi xuân cho độc lập, tự do của dân tộc.



