Từ cuối 1968 đến đầu 1971, quân dân Duyên Hải đã bắn rơi 9 máy bay bằng súng trường, bắn bị thương 7 chiếc khác.
Thời gian này, để chia cắt, cô lập vùng căn cứ ven biển của ta, ngoài Hạm đội 7 túc trực ngoài khơi, địch còn tổ chức 2 Hải đoàn 23 (hoạt động bên cửa Cung Hầu) và Hải đoàn 25 (hoạt động bên cửa Định An). Bọn này dùng tàu công suất lớn ủi sập hết các hàng đáy của người dân, phát hoang trên mặt sông, mặt rạch vừa mở rộng tầm nhìn vừa giúp tàu chiến cơ động đánh phá. Từ các Hải đoàn này, chúng dùng xuồng cao tốc bất thần đổ các toán biệt kích, người nhái bí mật luồn sâu trong rừng, truy tìm căn cứ
Thời gian này, để chia cắt, cô lập vùng căn cứ ven biển của ta, ngoài Hạm đội 7 túc trực ngoài khơi, địch còn tổ chức 2 Hải đoàn 23 (hoạt động bên cửa Cung Hầu) và Hải đoàn 25 (hoạt động bên cửa Định An). Bọn này dùng tàu công suất lớn ủi sập hết các hàng đáy của người dân, phát hoang trên mặt sông, mặt rạch vừa mở rộng tầm nhìn vừa giúp tàu chiến cơ động đánh phá. Từ các Hải đoàn này, chúng dùng xuồng cao tốc bất thần đổ các toán biệt kích, người nhái bí mật luồn sâu trong rừng, truy tìm căn cứ, kho tàng của ta. Cũng từ các tàu sân bay của Hạm đội 7 ngoài khơi, chúng tổ chức những phi đội 2 chiếc trực thăng đổ quân theo hình thức “nhảy giò” chụp đúng vào những điểm mà máy bay trinh sát phát hiện. Với chiến thuật này, chúng đã phát hiện bắn chìm 250 ghe biển, làm chết hơn 200 ngư dân thuộc các xã Vinh Kim, Mỹ Long, Hiệp Thạnh, Trường Long Hòa, Long Vĩnh…
Trước tình hình đó, Huyện đội Cầu Ngang – Duyên Hải tham mưu cho Huyện ủy phát động các xã ven biển tăng cường tối đa phong trào nhân dân du kích chiến tranh, xây dựng các đơn vị du kích xã, du kích ấp đủ mạnh làm nòng cốt cùng quần chúng nhân dân địa phương xây dựng ấp chiến đấu, xã chiến đấu cùng nhau đánh giặc giữ làng. Chính những bãi trái, hệ thống vũ khí thô sơ, những mũi súng bắn tỉa chính xác của du kích cùng sự hỗ trợ, chi viện của các đơn vị vũ trang cấp trên đóng tại địa bàn đã hạn chế tối đa, tiến tới bẻ gãy các cuộc hành quân càn quét của địch, bảo vệ vững chắc khu căn cứ. Tại các xã ven biển, phong trào thi đua giữa các đơn vị du kích bắn máy bay, tàu chiến địch luôn phát triển sôi động, thu được nhiều chiến tích lừng lẫy. Tính trong 3 năm, từ cuối 1968 đến đầu 1971, quân dân Duyên Hải đã bắn rơi 9 máy bay bằng súng trường, bắn bị thương 7 chiếc khác. Điển hình là trận du kích Huỳnh Văn Mô bắn rơi máy bay OV10 của địch tại biển Nhà Mát. Hôm đó, vào mùa biển trúng nên ngư dân Trường Long Hòa rủ nhau ra biển đẩy xiệp thì bị 2 máy bay OV 10 từ Hạm đội 7 bay vào phát hiện quần đảo, bắn rốc két. Một số ngư dân vác xiệp chạy lên bờ vào rừng ẩn nấp, số chạy không kịp buộc phải giấu mình trên bãi biển, có nguy cơ bị sát thương rất cao. Chiến sĩ du kích Huỳnh Văn Mô nổ hai phát súng trường thu hút máy bay địch về phía mình, giải thoát cho số bà con đang kẹt lại ngoài bãi biển. Tên phi công phát hiện vị trí bắn trả nên bổ nhào xuống bắn rốc két. Với phát đạn thứ 3, anh Huỳnh Văn Mô đã hạ được chiếc máy bay OV 10 vốn rất khó bắn rơi của địch. Đây là chiếc OV 10 của Mỹ đầu tiên bị bắn rơi bởi đạn súng trường trên chiến trường miền Tây Nam bộ. Ở một trận khác, khi du kích Trường Long Hòa bắn rơi chiếc mô hốc, 2 tên phi công kịp nhảy dù định thoát thân. Xã đội trưởng Mai Văn Đẹp cùng một chiến sĩ du kích, với một khẩu súng trường và một chét lá trong tay, có sự yểm trợ của du kích và quần chúng, đã vây bắt sống được 2 tên Mỹ, bao gồm tên trung úy phi công và tên thiếu tá chỉ huy. Tại Hiệp Thạnh, 2 chiếc trực thăng Mỹ từ Hạm đội 7 bay vào ấp Chợ thực hiện chiến thuật “nhảy giò” đánh lựu đạn xuống bến tàu mà bà con vừa đi chợ Ô Lắc về bị du kích chống trả, 2 chiếc trực thăng rơi xuống biển Cồn Ngao…
Vùng căn cứ ven biển Duyên Hải vẫn được giữ vững trước sự đánh phá mang tính hủy diệt của kẻ thù. Thời gian này, các tiểu đoàn thuộc Trung đoàn 3 bộ đội chủ lực Quân khu 9, một bộ phận Đặc khu ủy Sài Gòn – Gia Định (T 4), các đơn vị vũ trang tỉnh Trà Vinh thường lui về căn cứ Trường Long Hòa, Long Vĩnh để bổ sung quân số, phục hồi sức chiến đấu sau đợt dốc toàn lực trong chiến dịch Xuân Mậu Thân. Đại đội địa phương quân Cầu Ngang – Duyên Hải thường đóng tại căn cứ Hiệp Thạnh và Đại đội địa phương quân Trà Cú cũng phải tạm lui về căn cứ Long Vĩnh trước sự đánh phá điên cuồng của kẻ thù.
Sau khi cơ bản đã tiến hành lấn chiếm xong địa bàn Cầu Ngang, từ giữa năm 1970, bọn chỉ huy Vùng IV Chiến thuật và tiểu khu Vĩnh Bình tập trung toàn lực, bắt đầu tổ chức lấn chiếm, đóng đồn tại địa bàn các xã căn cứ ven biển Duyên Hải. Đầu tiên, chúng đưa Tiểu đoàn 404 và Tiểu đoàn 470 bảo an tiểu khu vừa thành lập về đóng quân dài ngày tại chi khu Long Khánh và khu trù mật Cái Đôi, rồi xua đại đội bảo an 139, đại đội bảo an 91 cùng các trung đội dân vệ ra đóng thêm các đồn bót ngoại vi như đồn Đình Cũ, đồn Ba Thành, đồn Vĩnh Khánh, đẩy lùi các hoạt động vũ trang của ta ra xa. Tiểu khu Vĩnh Bình tăng cường sức mạnh cho chi khu Long Khánh bằng cách đưa về 01 dàn hỏa tiễn, 2 khẩu 105 mm, 01 khẩu cối 80 mm, nhiều khẩu cối 60 mm, 06 khẩu đại liên 60, 02 khẩu thượng liên 12,7 mm và nhiều khẩu trung liên. Từ tháng 9/1970, chúng mở nhiều cuộc càn quét, đánh chà đi xát lại địa bàn Long Vĩnh, đóng đồn Xóm Chùa, rồi đồn Thốt Lốt, Kinh Đào, đồn lộ số 01, lộ số 3, lộ số 10, lộ số 12 và đồn Bến Đình, để từ đó lấn chiếm, đóng tiếp các đồn Vũng Tàu, Cái Cối… Đến cuối năm 1970, địch đã đóng tại Long Vĩnh 12 đồn bót lớn nhỏ. Đóng đồn đến đâu, chúng liền đưa bọn phượng hoàng, bình định về lân la trong các xóm ấp, phum sóc rà soát, phát hiện, đánh phá cơ sở ta cũng như mở nhiều đợt gom bắt thanh niên vào lính. Trong quá trình địch lấn chiếm đóng đồn, đồng chí Trần Văn Tôm (Sáu Rồng) – Bí thư Chi bộ cùng đồng chí Hai Thật chỉ huy du kích phối hợp cùng phong trào nhân dân du kích chiến tranh và ba mũi giáp công liên tục đánh trả, gây cho chúng nhiều thiệt hại. Điển hình là trận du kích tập kích tiêu diệt tiểu đội bảo an dã ngoại tại đồn Kinh Đào, thu 4 khẩu AR 15, 1 khẩu XM 79 và 01 máy truyền tin PC 10.



