TỪ ĐỀN HÙNG ĐẾN THỦ ĐÔ

Tháng 9 năm 1954.
Sau thắng lợi của Chiến dịch Điện Biên Phủ và việc ký kết Hiệp định Genève, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân Việt Nam bước sang một giai đoạn mới. Quân đội ta chuẩn bị về tiếp quản những vùng mới được giải phóng, trong đó có Thủ đô Hà Nội.
Trong đoàn quân trở về ấy có Đại đoàn Quân Tiên phong, tức Đại đoàn 308, một trong những đại đoàn chủ lực đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam. Đại đoàn vừa trải qua những năm tháng chiến đấu gian khổ và góp phần vào thắng lợi của Chiến dịch Điện Biên Phủ.
Khi các trung đoàn thuộc Đại đoàn 308 đang hành quân về tập kết gần Hà Nội, một số cán bộ từ cấp đại đội trở lên nhận được lệnh triệu tập đi gặp cấp trên để nhận chỉ thị.
Sáng ngày 19 tháng 9 năm 1954, khoảng 80 cán bộ của Đại đoàn, từ cấp đại đội trở lên, có mặt tại Đền Giếng, thuộc Khu di tích Đền Hùng, Phú Thọ. Họ không biết rằng mình sắp được gặp một người đặc biệt.
Cửa Đền Giếng mở ra.
Chủ tịch Hồ Chí Minh xuất hiện.
Các cán bộ, chiến sĩ xúc động reo lên: “Bác Hồ! Hồ Chủ tịch muôn năm!”
Do khu vực sân trước đền khá hẹp, đội hình không thể tập hợp ngay ngắn. Bác quan sát rồi ra hiệu cho mọi người ngồi xuống các bậc thềm. Bác cũng ngồi trên bậu cửa đền. Các cán bộ, chiến sĩ quây quần xung quanh Người.
Không có một khoảng cách xa cách giữa vị Chủ tịch nước và những người lính.
Bác nói chuyện với cán bộ, chiến sĩ về nhiệm vụ sắp tới.
Đại đoàn 308 chuẩn bị tiếp quản Thủ đô Hà Nội.
Đó là một nhiệm vụ hoàn toàn khác với những trận đánh mà họ vừa trải qua. Trên chiến trường, người lính phải đối mặt với máy bay, xe tăng, đại bác và bom đạn. Nhưng khi bước vào một thành phố vừa được giải phóng, thử thách lại nằm ở một phương diện khác: giữ gìn kỷ luật, giữ gìn phẩm chất của người chiến sĩ cách mạng và giữ được lòng tin của nhân dân.
Bác căn dặn cán bộ, chiến sĩ phải giữ nghiêm kỷ luật, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhân dân; đồng thời phải học tập, rèn luyện, tránh những cám dỗ của cuộc sống nơi thành thị. Người đặc biệt cảnh báo về những “viên đạn bọc đường” – những cám dỗ có thể khiến con người sa ngã nếu không có bản lĩnh.
Rồi tại nơi gắn với cội nguồn dân tộc, Bác nhắc đến các Vua Hùng.
Người nói:
“Các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước.”
Câu nói ấy rất ngắn.
Nhưng hoàn cảnh mà Bác nói câu ấy lại có ý nghĩa đặc biệt.
Bác đang đứng tại Đền Hùng, nơi gắn với truyền thống dựng nước của dân tộc.
Những người đang ngồi trước mặt Bác là những người lính vừa đi qua một cuộc chiến tranh lâu dài và đang chuẩn bị trở về Hà Nội, thành phố mà quân đội và nhân dân Việt Nam sắp tiếp quản.
Vì thế, câu nói về các Vua Hùng không chỉ là lời nhắc nhớ về quá khứ.
Đó còn là lời giao nhiệm vụ cho hiện tại.
Cha ông đã dựng nên đất nước. Thế hệ hôm nay phải có trách nhiệm bảo vệ đất nước.
Với Đại đoàn 308, trách nhiệm trước mắt là trở về Hà Nội trong tư thế của những người chiến thắng, nhưng phải xứng đáng với niềm tin của Trung ương, Chính phủ và nhân dân. Các cán bộ, chiến sĩ phải giữ được hình ảnh của người Bộ đội Cụ Hồ trong một hoàn cảnh hoàn toàn mới.
Cuộc gặp tại Đền Hùng kết thúc.
Những người lính tiếp tục lên đường.
Chỉ hơn 20 ngày sau, ngày 10 tháng 10 năm 1954, quân đội ta tiến vào tiếp quản Thủ đô Hà Nội trong không khí nhân dân Hà Nội đón mừng đoàn quân trở về.
Nhưng lời Bác căn dặn tại Đền Hùng ngày 19 tháng 9 vẫn còn đó.
Không chỉ dành cho những người lính năm 1954.
Mà trở thành một lời nhắc nhở đối với các thế hệ người Việt Nam:
Đất nước có được từ công lao dựng nước của cha ông. Đất nước được giữ gìn bằng trách nhiệm của mỗi thế hệ.
Và có lẽ đó chính là điều đặc biệt nhất của câu chuyện.
Bác Hồ không nói về một điều xa xôi.
Bác đứng ngay tại nơi được xem là cội nguồn của dân tộc và nói với những người sắp trở về Thủ đô rằng: giữ nước không chỉ là cầm súng chiến đấu. Giữ nước còn là giữ kỷ luật, giữ phẩm chất, giữ lòng dân và giữ gìn những gì cha ông đã trao lại.
70 năm, 80 năm hay nhiều thế hệ sau nữa, câu nói tại Đền Hùng vẫn còn nguyên giá trị:
“Các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước.”



