Tự do hoà bình không phải dễ, có được bây giờ, cố gắng mà giữ

Theo báo QĐND trong buổi phỏng vấn cựu chiến binh Quách Minh Sơn đăng trên nguyệt san Sự kiện và nhân chứng của báo Quân đội Nhân Dân, cựu chiến binh Quách Minh Sơn cho hay “ngày 24-3-1975, sau khi giải phóng huyện lỵ Củng Sơn (nay là thị trấn Củng Sơn, huyện Sơn Hòa, tỉnh Phú Yên), Sư đoàn 320A (nay là Sư đoàn 320, Quân đoàn 3) tiếp tục tiến về giải phóng thị xã Tuy Hòa (nay là thành phố Tuy Hòa), tỉnh Phú Yên. Đại đội Trinh sát 20 trực thuộc Sư đoàn 320A được lệnh cấp tốc xuống thị xã Tuy Hòa để bám nắm tình hình địch. Nhiệm vụ của tổ trinh sát là nắm đường giao thông, vị trí bố trí các mục tiêu quan trọng như sân bay Đông Tác (nay là sân bay Tuy Hòa), sở cảnh sát, dinh tỉnh trưởng Phú Yên, sở chỉ huy trung đoàn 44 ngụy.
Vừa tới thị xã Tuy Hòa, tổ trinh sát bắt liên lạc với lực lượng trinh sát của Tỉnh đội Phú Yên và được dẫn lên núi Chóp Chài nằm ở ngoại ô, cách thị xã Tuy Hòa gần 4km về phía tây bắc để ẩn nấp. Trên đỉnh núi Chóp Chài có một đại đội địch chiếm đóng, dưới chân núi lại thường xuyên xuất hiện biệt kích, thám báo lùng sục, vì vậy ban ngày, tổ trinh sát phải ngụy trang nằm dưới những lùm cây cao ngang tầm ngực ở lưng chừng núi. Do đã hiệp đồng từ trước với Tỉnh đội Phú Yên nên đến đêm, có hai đồng chí biệt động thành đến chân núi Chóp Chài dẫn đường cho đồng chí Sơn và đồng chí Sử đi vào các mục tiêu. Sau khoảng ba đêm, tổ trinh sát đã bí mật tiềm nhập được sân bay Đông Tác, sở chỉ huy trung đoàn 44, sở cảnh sát nhưng khi trinh sát đến dinh tỉnh trưởng thì không thể tiếp cận.
Ông Sơn nhớ lại: “Mục tiêu dinh tỉnh trưởng được bố trí canh phòng rất cẩn mật. Ở các vị trí ngã 3, ngã 4 đường dẫn vào dinh, địch đều lập các bốt gác. Ban đêm, địch tăng cường thêm lính canh và sử dụng đèn pha liên tục nên chúng tôi không thể vào gần. Phía sau dinh có nhiều ao hồ, vì vậy, chúng tôi thử đột nhập từ hướng đó. Tuy nhiên, sau hai đêm ngụp lặn, chúng tôi vẫn không thể vào được bên trong vì địch thả nhiều dây thép gai dưới ao”. Thời gian báo cáo cấp trên gần đến, mục tiêu lại không thể bỏ qua, tổ trinh sát đã bàn bạc với các đồng chí biệt động thành và thống nhất phương án cải trang làm dân buôn dưới Sài Gòn lên thị xã Tuy Hòa để tiếp cận.
Sáng 29-3-1975, tổ trinh sát cùng hai đồng chí biệt động thành giả làm dân buôn bán hải sản được một người lái xe lam cũng là biệt động thành chở vào thị xã Tuy Hòa. Trên đường đi, mọi người phân công nhau ghi nhớ các trục đường giao thông trong thị xã, nhất là đường tới dinh tỉnh trưởng để sau này dẫn đơn vị vào. Mọi việc diễn ra thuận lợi, tổ trinh sát và hai đồng chí biệt động thành được đưa đến một gia đình là cơ sở cách mạng của ta ngay cạnh khu dinh tỉnh trưởng. Vừa xuống xe, tổ trinh sát được một người đàn ông trung niên và một cô gái trẻ đón vào nhà. Khi đang chuẩn bị giao nhiệm vụ thì bất ngờ có một tên liên gia trưởng (là người do chính quyền ngụy cử ra để quản lý một khu dân cư khoảng 5 đến 7 hộ gia đình sống gần nhau) cùng mấy tên lính ngụy đi vào thông báo: “Việt Cộng có khả năng sẽ đánh chiếm thị xã Tuy Hòa trong vài ngày tới, vì vậy, gia đình cần phải cảnh giác và chuẩn bị sẵn sàng di tản”.
Ông Sơn kể tiếp: “Thấy chúng tôi, tên liên gia trưởng hất hàm hỏi chủ nhà: “Mấy người này là ai?”. Chủ nhà bình tĩnh trả lời: “Thưa mấy ông, đây là những người bạn làm ăn với gia đình ở dưới Sài Gòn mới lên. Vì sợ trên này Việt Cộng tấn công nên họ tới thăm gia đình và thanh toán tiền hàng, xong là họ về ngay chứ không ở lại lâu”. Bất ngờ, tôi bị một anh biệt động ngồi cạnh đá mạnh vào chân. Lúc này tôi mới chợt nhớ, do đi dép cao su nhiều năm nên vết hằn đan chéo của quai dép hiện rõ trên mu bàn chân. Tôi vội rụt chân vào gầm bàn, tim đập thình thịch. Cũng may là mấy tên lính ngụy không nhìn thấy. Chúng nhắc nhở thêm vài việc với chủ nhà rồi bỏ đi. Thật hú vía!... Mọi người cùng nhìn nhau thở phào.
Tốp lính rời đi, tổ trinh sát chúng tôi phân công nhau quan sát xung quanh dinh tỉnh trưởng. Do vào ban ngày nên đường giao thông, vị trí bố trí các mục tiêu của địch lộ ra ngay trước mắt. Khi đã lấy đủ thông tin cần thiết, tổ trinh sát rút ra ngoài thị xã về báo cáo tình hình với cấp trên. Đến rạng sáng 1-4-1975, chúng tôi đã hoàn thành tốt nhiệm vụ dẫn đường cho đơn vị tiến vào giải phóng thị xã Tuy Hòa”.”
Chiến tranh đã lùi xa, những vệt khói bom nát đá năm nào giờ đã nhường chỗ cho những mầm xanh của độc lập, tự do. Nhưng với những người lính bước ra từ gian khổ, ký ức về một "thời hoa lửa" chưa bao giờ phai nhạt. Họ đã sống, đã chiến đấu và cống hiến trọn tuổi trẻ cho từng nhành cây, ngọn cỏ của Tổ quốc.
Trong vô vàn những câu chuyện xúc động về thế hệ cha anh, tôi đặc biệt khắc ghi hình ảnh và lời dặn dò đầy trăn trở của Trung úy Quách Minh Sơn:
"Tự do hòa bình không phải dễ, có được bây giờ cố gắng mà giữ."
Câu nói ngắn gọn ấy không phải là một lý thuyết khô khan trên trang sách, mà là bài học được đánh đổi bằng máu, mồ hôi và tuổi trẻ của cả một thế hệ đi trước.
Để chúng ta hôm nay được sống trong bình yên, được cắp sách đến trường và theo đuổi những giấc mơ, Trung úy Quách Minh Sơn cùng đồng đội đã trải qua biết bao mưa bom, bão đạn. "Thời hoa lửa" – cái thời mà tuổi mười tám, đôi mươi gửi lại nơi chiến trường khốc liệt, nơi mà ranh giới giữa sống và chết chỉ trong một gang tay.
Đối với ông, độc lập không tự nhiên mà có, hòa bình không phải là điều hiển nhiên. Đó là thành quả của sự hi sinh thầm lặng của biết bao người con đất Việt đã ngã xuống khi tuổi đời còn rất trẻ.
Lời nhắn nhủ "có được bây giờ cố gắng mà giữ" của Trung úy Quách Minh Sơn chứa đựng sự gửi gắm thiêng liêng của quá khứ đối với hiện tại:
Không quên cội nguồn: Lời dặn ấy nhắc nhở chúng ta về lòng biết ơn. Giữ gìn hòa bình trước hết là giữ gìn ký ức, không được phép lãng quên những gian khổ mà thế hệ trước đã trải qua.
Ý thức trách nhiệm: Độc lập, tự do là thành quả của quá khứ, nhưng giữ vững thành quả đó lại là sứ mệnh của hôm nay và mai sau.
Hòa bình hôm nay không chỉ là sự vắng bóng của tiếng bom, tiếng súng, mà còn là sự phát triển, vững mạnh của đất nước trên mọi lĩnh vực. Để "giữ" được hòa bình như lời Trung úy Quách Minh Sơn dặn dò, thế hệ trẻ chúng ta cần:
Cố gắng trong học tập và rèn luyện: Tri thức và nhân cách là vũ khí mạnh mẽ nhất để xây dựng và bảo vệ đất nước trong thời đại mới.
Sống có lý tưởng và trách nhiệm: Sẵn sàng cống hiến sức trẻ cho cộng đồng, giữ gìn nét đẹp văn hóa và chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc.
Lan tỏa tinh thần yêu nước: Giữ ngọn lửa tri ân luôn rực cháy trong tim qua từng hành động nhỏ nhất hằng ngày.
Lời kết
"Tự do, hòa bình không phải dễ, có được bây giờ cố mà giữ" đã chạm đến trái tim của mỗi người dân Việt Nam, đặc biệt là thế hệ trẻ sinh ra và lớn lên trong hòa bình. Câu nói ngắn gọn nhưng chứa đựng một chân lý sâu sắc, một lời nhắc nhở đầy trách nhiệm về giá trị thiêng liêng của tự do và hòa bình, đồng thời thôi thúc chúng ta trân trọng và gìn giữ những gì đã được đánh đổi bằng xương máu của bao thế hệ.
"Tự do, hòa bình không phải dễ" - lời khẳng định này gợi nhắc về một thời kỳ lịch sử đầy gian khổ và hy sinh của dân tộc ta. Để có được độc lập, tự do, đất nước ta đã trải qua hàng chục năm chiến tranh ác liệt, với biết bao mất mát, đau thương. Hàng triệu người con ưu tú của dân tộc đã ngã xuống, biết bao gia đình ly tán, làng mạc tiêu điều. Từng tấc đất, từng dòng sông, từng ngọn núi đều thấm đẫm máu và nước mắt của những người đã chiến đấu không tiếc thân mình. Chính sự kiên cường, bất khuất, tinh thần đoàn kết và ý chí giành độc lập đã giúp dân tộc ta vượt qua mọi khó khăn, đánh bại mọi kẻ thù xâm lược, giành lại tự do và thống nhất đất nước. Vì thế, tự do và hòa bình mà chúng ta đang hưởng ngày hôm nay không phải là một món quà từ trên trời rơi xuống, mà là kết quả của một cuộc đấu tranh lâu dài và gian khổ, là sự hy sinh vô bờ bến của biết bao anh hùng liệt sĩ và đồng bào.
"Có được bây giờ cố mà giữ" - vế sau của câu nói là một lời dặn dò, một trách nhiệm lớn lao đặt lên vai của thế hệ hôm nay. Hòa bình không phải là một trạng thái tĩnh tại, mà là một quá trình không ngừng được xây dựng và bảo vệ. Những thành quả tự do và hòa bình mà cha ông ta đã dày công giành lại có thể bị lung lay, thậm chí bị đánh mất nếu chúng ta không biết trân trọng, giữ gìn và phát huy. Trong bối cảnh thế giới hiện nay vẫn còn tiềm ẩn nhiều bất ổn, xung đột, việc củng cố nền hòa bình, bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ là nhiệm vụ hàng đầu của toàn dân tộc.
Để "cố mà giữ" tự do và hòa bình, mỗi người, đặc biệt là thế hệ trẻ, cần phải ý thức sâu sắc về giá trị của nó. Chúng ta cần trân trọng những gì mình đang có, biết ơn những người đã hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc. Sự biết ơn này cần được thể hiện bằng những hành động cụ thể trong cuộc sống hàng ngày, từ việc học tập, lao động hăng say, góp phần xây dựng đất nước ngày càng giàu mạnh, đến việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, phát huy tinh thần đoàn kết và lòng yêu nước.
Thế hệ trẻ cần trang bị cho mình kiến thức lịch sử, hiểu rõ những khó khăn, gian khổ mà cha ông đã trải qua để giành được tự do và hòa bình. Từ đó, chúng ta sẽ có ý thức hơn về trách nhiệm của mình trong việc bảo vệ những thành quả đó. Đồng thời, chúng ta cũng cần rèn luyện bản lĩnh, ý chí, tinh thần cảnh giác trước mọi âm mưu gây chia rẽ, phá hoại của các thế lực thù địch.
Hơn nữa, việc xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, nơi mọi người được sống trong ấm no, hạnh phúc cũng là một cách thiết thực để giữ gìn hòa bình. Một đất nước mạnh về kinh tế, vững về quốc phòng, ổn định về chính trị và giàu đẹp về văn hóa sẽ là một nền tảng vững chắc để bảo vệ tự do và hòa bình.
Tóm lại, lời dạy của người cựu chiến binh là một lời nhắc nhở sâu sắc về giá trị vô giá của tự do và hòa bình, đồng thời khơi dậy lòng tự hào và trách nhiệm của mỗi người dân Việt Nam. Thế hệ hôm nay cần khắc ghi công ơn của cha ông, trân trọng những gì đang có và không ngừng nỗ lực xây dựng, bảo vệ đất nước ngày càng phồn vinh, hùng cường, để tự do và hòa bình mãi mãi là nền tảng cho sự phát triển bền vững của dân tộc.



