"Tự do, hòa bình không phải dễ. Có được bây giờ, cố gắng mà giữ”—cựu chiến binh Quách Minh Sơn.

"Tự do, hòa bình không phải dễ. Có được bây giờ, cố gắng mà giữ”—cựu chiến binh Quách Minh Sơn.
Có lẽ, đối với thế hệ trẻ chúng em ngày nay hòa bình là điều quá đỗi quen thuộc, dường như là một điều tất yếu trong cuộc sống. Chiến tranh thường chỉ hiện qua những trang sách sử, những cột mốc thời gian tưởng chừng rất xa xôi. Thế nhưng để đem lại bầu trời hòa bình cho Tổ Quốc hôm nay, thế hệ cha ông đi trước đã phải đánh đổi bằng máu, nước mắt, tuổi xuân hay thậm chí là tính mạng. Lịch sử chưa bao giờ là những con chữ khô khan trên giấy, mà đó là sự kiện đã từng diễn ra. Là những mất mát, tổn thương và ám ảnh mà thời gian không thể xóa nhòa trong kí ức của những người lính năm xưa. Khi lắng nghe câu chuyện vượt dãy Trường Sơn của một bác cựu chiến binh chia sẻ trên mạng xã hội em có cảm nhận rằng lịch sử chưa từng xa xôi như em thấy mà rất gần gũi, chân thật và đau đớn đến thế.
Câu chuyện được kể từ tài khoản tiktok doan.tuoc.1938 (Đoàn Tước 1938) ông là một cựu chiến binh tham gia kháng chiến chống Mỹ. Tên thật của ông là Đoàn Trọng Tước sinh năm 1938, cựu chiến binh kháng chiến chống Mỹ cứu nước.
Năm 1965, xuất phát từ Mỹ Đức, thuộc thành phố Hà Nội, ông cùng đơn vị nhận lệnh gấp rút lên đường vào miền Nam chi viện chiến trường. Trước khi xuất phát, chỉ huy của ông đã phổ biến tình hình chiến sự trong Nam đang rất nguy cấp. Theo lời ông kể, ví tình hình miền Nam như “trái chín ở trên cây” thời cơ đã đến, cần nhanh chóng tiếp viện để phối hợp cùng quân ta trong Nam. Ông kể rằng, bộ đội miền Bắc vào tiếp sức cùng quân giải phóng miền Nam với niềm tin đất nước sẽ sớm được giải phóng. Bấy giờ, ông nhập ngũ vào tiểu đoàn 607, biệt hiệu Bắc Kế. Do xuất phát gấp, đoàn quân của ông gặp vô vàn khó khăn ngay từ những ngày đầu. Chỉ huy phổ biến rằng đơn vị sẽ hành quân dọc dãy Trường Sơn, qua cả Trường Sơn Đông và Trường Sơn Tây, trên tuyến đường đầy hiểm trở và thiếu thốn. Ông kể cuộc hành quân vô cùng gấp rút. Có ngày đơn vị phải đi hàng chục kilômét đường rừng. Theo nguyên văn lời ông:
Chùm ảnh tư liệu
Ảnh tư liệu của bài viết.
“Đi từ sáng cho tới sáu giờ tối, mà có khi mười giờ tối mới được nghỉ.”
Ngay trong ngày hành quân đầu tiên, đơn vị đã tiến đến đỉnh Trường Sơn cao hàng nghìn mét. Để tránh sự truy lùng của quân địch, nhiều khi bộ đội phải tiếp tục hành quân cả vào ban đêm. Khó khăn lớn nhất trong hành trình là sự thiếu thốn lương thực. Ông xót xa kể lại rằng có những ngày mỗi người chỉ có một lon gạo, thậm chí có lúc hoàn toàn không có gạo. Khi đó, bộ đội buộc phải tận dụng nguồn lương thực tự nhiên như rau rừng hoặc quả rừng ăn sống để cầm cự. Theo lời ông, lương thực được phân phát cho mỗi người gồm hai kg muối bột và hai kg mắm ruốc. Bên cạnh đó, quân trang mỗi người được phát gồm 2 bộ bà ba đen và một chiếc mũ tai bèo. Ông giải thích rằng cách ăn mặc này nhằm đề phòng trường hợp bị địch bắt, khi ấy có thể nói mình là người miền Bắc di cư vào Nam làm cao su từ năm 1954. Ngoài việc thiếu ăn, mỗi người còn phải mang vác hành trang rất nặng, khiến việc di chuyển càng thêm gian nan. Không chỉ chịu đói khát, bộ đội còn phải đối mặt với bệnh tật, đặc biệt là sốt rét rừng. Ông chia sẻ rằng rất nhiều đồng đội vốn rất khỏe mạnh nhưng cuối cùng vẫn đổ bệnh rồi hi sinh ngay trên dãy Trường Sơn. Nguyên nhân chủ yếu là do điều kiện quá khắc nghiệt, thiếu thốn lương thực và sức lực không đủ để cầm cự. Về vũ khí, mỗi người được trang bị một khẩu súng AK cùng 400 viên đạn. Ông kể rằng trước khi vào chiến trường, bộ đội được phổ biến: “Lấy súng của địch đánh địch, lấy đạn của địch bắn địch, lấy quần áo của địch để mặc.” Lực lượng chi viện từ miền Bắc vào Nam qua lời kể của ông khi ấy rất đông, từng tiểu đoàn nối đuôi nhau hành quân. Mỗi tiểu đoàn có khoảng 200 người. Cuộc hành quân của ông kéo dài qua nhiều địa hình và nhiều quốc gia. Từ Việt Nam, đơn vị tiếp tục di chuyển sang Lào, rồi đến miền Trung, sau đó qua Campuchia, cuối cùng mới trở về lại Việt Nam để tiến vào chiến trường. Dù hành trình vô cùng khắc nghiệt, ông và đồng đội vẫn kiên cường tiến bước với một mục tiêu góp sức giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Thông qua câu chuyện vượt dãy Trường Sơn của cựu chiến binh Đoàn Trọng Tước, em cảm động sâu sắc trước tinh thần kiên cường và sự đoàn kết bền chặt của dân tộc ta. Qua lời kể chân thật, mộc mạc của một người chiến sĩ từng trải, em cảm nhận được phần nào những khó khăn, thiếu thốn mà các chiến sĩ năm xưa đã phải đối mặt. Đó là những ngày hành quân thâu đêm suốt sáng, là những bữa ăn thiếu trước hụt sau, là khoảnh khắc phải chứng kiến đồng đội ngã xuống trong hoàn cảnh vô cùng khắc nghiệt. Thế nhưng, giữa muôn vàn gian khổ, lòng họ vẫn kiên định với lý tưởng cao đẹp là đưa đất nước đến ngày hòa bình, thống nhất. Chính lý tưởng ấy đã trở thành nguồn động lực, sưởi ấm những đêm lạnh giữa đại ngàn Trường Sơn. Thứ họ mang trên vai không chỉ là lương thực hay vũ khí tiếp tế cho quân giải phóng miền Nam, mà còn là niềm hy vọng, là sự gửi gắm của nhân dân miền Bắc dành cho đồng bào miền Nam. Tinh thần đồng lòng, đoàn kết với ý chí quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh đã trở thành ánh sáng soi đường cho các chiến sĩ trên dãy Trường Sơn tăm tối. Có những người đã mãi mãi nằm lại nơi ấy, xương máu của họ đã hòa vào đất mẹ, hóa thành hình hài Tổ quốc hôm nay. “Vùng trời nào cũng là vùng trời Tổ quốc.” Không có ranh giới giàu nghèo hay Nam Bắc, bởi chúng ta đều là con dân đất Việt, cùng chung một cội nguồn và cùng mang trong mình khát vọng xây dựng đất nước ngày càng vươn cao, vươn xa. Khi lắng nghe câu chuyện của ông, em như được chạm vào lịch sử, cảm nhận được phần nào nỗi đau, sự mất mát và những hy sinh trong những năm tháng đất nước chìm trong bom đạn. Em cảm thấy may mắn khi bản thân thuộc thế hệ trẻ hôm nay, thế hệ mà vẫn còn cơ hội được nghe cha ông kể lại những câu chuyện lịch sử hào hùng ấy để tiếp tục lưu giữ và truyền lại cho các thế hệ mai sau. Lịch sử chưa bao giờ chỉ là những dòng chữ khô khan trên trang sách. Hòa bình cũng chẳng phải tự nhiên mà có. Đó là thành quả được đánh đổi bằng máu, nước mắt và cả tuổi xuân của biết bao thế hệ cha ông. Là thế hệ trẻ hôm nay, chúng ta càng cần trân trọng hòa bình, giữ gìn ngọn lửa yêu nước và sống với trách nhiệm, lý tưởng cao đẹp để xứng đáng với những hy sinh lớn lao ấy.



