Tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo
Tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo
hát huy truyền thống yêu nước của dân tộc, truyền thống tốt đẹp của gia đình, quê hương, với sự nhạy cảm đặc biệt về chính trị, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm nhận thức được mục tiêu, lý tưởng đấu tranh giành độc lập dân tộc của các bậc tiền bối. Tuy nhiên, dù rất khâm phục các bậc tiền bối nhưng Người không hoàn toàn tán thành cách làm của họ. Người nhận xét: Cụ Phan Chu Trinh chỉ yêu cầu người Pháp thực hiện cải lương… chẳng khác gì đến xin giặc rủ lòng thương. Cụ Phan Bội Châu hy vọng Nhật giúp đỡ để đuổi Pháp. Điều đó rất nguy hiểm, chẳng khác gì “đưa hổ cửa nước, rước beo cửa sau”(6).
Quan niệm về độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng khác hẳn về chất so với quan điểm của các bậc tiền bối. Trong khi các phong trào cứu nước theo hệ tư tưởng phong kiến hay tư sản coi độc lập dân tộc là trở về với chế độ quân chủ chuyên chế hoặc chế độ dân chủ tư sản mà ở đó giai cấp địa chủ hay giai cấp tư sản là người thống trị còn nhân dân lao động là người bị trị thì Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng độc lập dân tộc phải gắn liền với tự do, ấm no, hạnh phúc, công bằng, bình đẳng cho tất cả mọi người. Theo Người: “nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”(7).
Vì thế, Người đã lựa chọn con đường cứu nước rất khác so với cha ông, đó là con đường sang phương Tây để tìm hiểu xem họ làm thế nào rồi quay trở lại giúp đồng bào của mình. Người đã sống, lao động, tự học tập, tiếp xúc với nhiều hạng người, từ tầng lớp thượng lưu đến những người lao động nghèo khổ ở các nước tư bản châu Âu, châu Mỹ, châu Phi. Điều đó giúp Người mở rộng tầm mắt, tăng cường vốn sống, hiểu biết về cuộc sống, tình cảnh, số phận con người, nhất là người lao động ở các nước tư bản và các nước thuộc địa.
Trên hành trình tìm đường cứu nước, giải phóng dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiếp xúc với nhiều học thuyết, nhiều hệ tư tưởng, đã nghiên cứu, khảo sát, thậm chí đã sống trong các trung tâm kinh tế, văn hóa, chính trị lớn của chủ nghĩa tư bản nhưng Người chỉ lựa chọn chủ nghĩa Mác-Lênin và đi theo con đường cách mạng vô sản và kết luận rằng: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”(8); Chỉ có cộng sản mới cứu được nhân loại, đem lại cho mọi người, không phân biệt chủng tộc, màu da, sự tự do bình đẳng, bác ái, đời sống ấm no, hạnh phúc. Sau khi lựa chọn con đường cách mạng vô sản, trở thành người cộng sản, tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh thực sự có bước phát triển mới. Người đã so sánh, lựa chọn, tổng hợp những cứ liệu từ thực tế Việt Nam và thế giới, những tư tưởng của các bậc tiền bối, những kinh nghiệm của bản thân để đúc kết, hình thành nên những luận điểm tư tưởng và kết luận mới. Có thể khẳng định rằng, với ý chí, nghị lực phi thường cùng với tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã bổ sung, phát triển thêm nhiều luận điểm mới.
Báo cáo về Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ gửi Quốc tế Cộng sản năm 1924 chính là một ví dụ. Chủ tịch Hồ Chí Minh tìm hiểu cách mạng Mỹ năm 1776 và cách mạng Pháp năm 1789, và rút ra nhận xét: “Cách mệnh Pháp cũng như cách mệnh Mỹ, nghĩa là cách mệnh tư bản, cách mệnh không đến nơi, tiếng là cộng hòa và dân chủ, kỳ thực trong thì nó tước lục công nông, ngoài thì nó áp bức thuộc địa”(9). Ngoài ra, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn cho rằng cách mạng giải phóng dân tộc ở các thuộc địa không hoàn toàn phụ thuộc vào cách mạng vô sản chính quốc. Nhân dân các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc có thể chủ động đứng lên, “đem sức ta mà giải phóng cho ta” giành thắng lợi trước cách mạng vô sản chính quốc.



