Từ Gian Khó Vươn Lên – Chuyện Chi Bộ Mường Hum 1963–1965
Từ Gian Khó Vươn Lên – Chuyện Chi Bộ Mường Hum 1963–1965
Thào A Púa chống cây gậy trúc, bước ra sân nhà sàn. Sương sớm Mường Hum trắng như sợi chỉ vắt ngang núi. Ông nhìn lũ trẻ đang đùa nghịch rồi khẽ bảo:
“Các con ạ, Mường Hum mình bây giờ yên bình lắm rồi. Nhưng hơn sáu mươi năm trước, cái ngày Đảng vận động xây dựng Chi bộ bốn tốt, bản làng mình sôi nổi như ngày hội đấy. Già đây chính mắt thấy, tai nghe… nhớ rõ từng chuyện.”
Ông chậm rãi kể, giọng run nhưng đầy tự hào:
“Tháng sáu năm 1963, Trung ương phát động xây dựng Chi bộ, Đảng bộ 4 tốt. Ở Mường Hum, cán bộ dưới xuôi lên họp thâu đêm với đảng viên. Toàn Chi bộ chỉ hơn chục người, nhưng ai cũng hăng hái lắm. Đầu năm 1964, Chi bộ họp lớn ở nhà đồng chí Lù Pín Khùy để quán triệt tư tưởng. Già còn nhớ, trời rét căm căm, vậy mà đảng viên ngồi ken đặc, nghe từng lời của Bí thư.”
Ông mỉm cười nhè nhẹ:
“Mình nghèo, bản xa xôi, cán bộ ít. Thế mà Chi bộ vẫn dám đăng ký phấn đấu thành Chi bộ 4 tốt. Đảng viên ai cũng bảo: Đã là đảng viên thì phải làm gương, làm gương mà không tốt thì sao dân tin?”
Trong hai năm 1964 – 1965, cả xã rộn ràng khí thế thi đua. Đảng viên đi đầu khai hoang, làm thủy lợi, trồng ngô, trồng lúa. Ai cũng bảo nhau làm cho bằng được.
Thào A Púa nhấc chén nước đặt xuống chiếc bàn gỗ cũ kỹ:
“Hai năm phấn đấu, Chi bộ mình được cấp trên công nhận là Chi bộ 4 tốt. Tin ấy lan cả bản. Người dân mừng như được mùa ngô.”
Trong bốn năm 1962–1965, Chi bộ kết nạp được ba đảng viên mới. Cùng với cán bộ dưới xuôi lên khai hoang, đến cuối năm 1965, Chi bộ đã có 16 đảng viên – chia thành ba tổ đảng.
“Ngày ấy chỉ nghe tiếng trống gọi họp Đảng là ai cũng chạy. Cái tinh thần ấy đẹp lắm, các con ạ.”
Giọng ông trầm xuống, như đang sống lại những năm tháng ấy:
“Chính quyền xã thì có đồng chí Lù Pín Khùy làm Chủ tịch UBHC xã. Ông ấy giỏi lắm – gần dân, thương dân, làm việc không biết mệt. Từ 1961 đến 1965, xã được củng cố mạnh lắm. Dân bản nhìn vào chính quyền mà tin, mà nghe.”
Mặt trận Tổ quốc, đoàn thanh niên, hội phụ nữ cũng được dựng lại từ những buổi họp trên nền đất, ngọn đèn dầu leo lét.
“Bà con người Hà Nhì, Dao, Mông, Giáy… ai cũng đoàn kết. Mặt trận khi ấy thực sự là nơi giữ bản, giữ xã.”
Thào A Púa chống gậy, chỉ tay về phía con đường lớn dẫn ra Bát Xát:
“Cái đường kia đấy – ngày trước là đường đất nhỏ thôi. Giữa năm 1965, Hội Phụ nữ xã phát động phong trào Phụ nữ ba đảm đang rồi làm thêm ngày thứ Bảy để mở đường Mường Hum – Bát Xát. Thanh niên, phụ nữ đi đầu, mang cuốc, mang xẻng, hát vang cả núi.”
Ông cười móm mém:
“Phụ nữ cũng chẳng kém ai đâu. Trời nắng chang chang hay mưa dầm gió bấc, họ vẫn đi làm đường, làm thủy lợi. Có người còn cõng cả con nhỏ theo.”
Thào A Púa kết lại câu chuyện bằng giọng ấm và đầy tự hào:
“Đảng viên ít, dân nghèo, bản xa… thế mà Mường Hum mình vẫn làm được bao việc lớn. Làm thủy lợi, mở đường, xây HTX, mở Chi bộ 4 tốt. Sức mạnh ấy từ đâu mà có?
Là từ Đảng, từ niềm tin, từ sự đoàn kết của dân bản.
Mường Hum ngày nay sáng đường, sáng bản, sáng nhà – là nhờ mấy thế hệ trước đổ mồ hôi, công sức.”
Ông nhìn bầu trời trong xanh, khẽ nói:
“Các con phải nhớ… Mường Hum mạnh là nhờ dân bản biết nghe Đảng, biết đoàn kết. Chuyện ngày xưa tuy đã xa, nhưng hào khí ấy còn mãi như ngọn lửa trên đỉnh núi, chẳng bao giờ tắt đâu.”



