Tự hào truyền thống yêu nước, lịch sử cách mạng
Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là một chương lịch sử vô cùng vẻ vang, oanh liệt của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ XX dưới sự lãnh đạo của Ðảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong cuộc kháng chiến đầy gian lao và anh dũng đó, ở miền Nam, dưới ngọn cờ của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam do Trung ương Cục miền Nam trực tiếp lãnh đạo, tỉnh Bến Tre đã vinh dự được Bộ Chỉ huy Miền quyết định tặng thưởng cờ danh dự mang tám chữ vàng “Anh dũng Ðồng khởi, thắng Mỹ, diệt ngụy”.
Lịch sử cách mạng
Bến Tre là vùng đất có lịch sử hình thành sớm ở Nam Bộ. Là vùng đất hợp thành bởi ba dải cù lao do nguồn phù sa từ bốn nhánh sông Cửu Long bồi tụ; có nhiều tiềm năng và lợi thế của miệt vườn với hoa trái trù phú, nổi tiếng nhất là cây dừa. Người Bến Tre có tinh thần yêu quê hương, đoàn kết, cần cù trong lao động; ý chí quật cường trong chống cường quyền và ngoại xâm, sống giàu tình nghĩa, giàu truyền thống lịch sử đấu tranh cách mạng, sớm hình thành một cộng đồng dân cư giàu phẩm chất cố kết trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.Ngay từ khi thực dân Pháp xâm lược, phong trào đấu tranh võ trang ở Bến Tre diễn ra mạnh mẽ, điển hình như Trịnh Viết Bàng, người chỉ huy nghĩa quân ở Bình Ðại, cuộc khởi nghĩa do hai anh em Phan Tôn, Phan Liêm lãnh đạo ở Ba Tri, cuộc khởi nghĩa ở vùng Ba Châu do Lê Quang Quan - Tán Kế lãnh đạo, cuộc khởi nghĩa ở Mỏ Cày do Nhiêu Ðẩu, Nhiêu Gương tổ chức… nhưng đều bị thất bại. Tuy nhiên, các cuộc khởi nghĩa đó đã bộc lộ được tinh thần quật khởi của người dân Bến Tre.Từ năm 1930, sau khi Ðảng Cộng sản Việt Nam được thành lập và sự ra đời chi bộ đầu tiên tháng 4-1930 ở Bến Tre, sau đó đã đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong phong trào đấu tranh của nhân dân Bến Tre. Trong cuộc Khởi nghĩa Nam Kỳ 1940, nhân dân Bến Tre đã dũng cảm đứng lên khởi nghĩa dưới lá cờ đỏ sao vàng. Cuộc khởi nghĩa giành chính quyền năm 1945 diễn ra với sức mạnh quật khởi, lực lượng quần chúng khởi nghĩa mà nòng cốt là đảng viên, Cứu quốc quân, hội viên Nghiệp đoàn và Nông hội, Thanh niên Tiền phong nhất tề xông lên với giáo, mác, tầm vông… làm cho quân Nhật và tay sai hoàn toàn tê liệt, không dám chống cự; Tỉnh trưởng Phan Văn Chỉ phải đầu hàng, xin bàn giao chính quyền cho cách mạng.Chín năm kháng chiến chống thực dân Pháp đầy gian lao và anh dũng, nhân dân Bến Tre đã vùng lên với ý chí quyết chiến, quyết thắng, đập vỡ từng mảng hệ thống đồn bốt dày đặc của địch, phá và làm tan rã bộ máy ngụy quyền cơ sở, mở rộng vùng giải phóng; phối hợp nhịp nhàng cùng với các chiến trường cả nước làm nên Chiến thắng Ðiện Biên Phủ, buộc thực dân Pháp phải ký Hiệp định Giơnevơ (20-7-1954) về đình chỉ chiến tranh ở Việt Nam.Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của quân và dân Bến TreMặc dù Hiệp định Giơnevơ đã được ký kết, nhưng với mưu đồ đã dự tính từ trước, đế quốc Mỹ bộc lộ sự can thiệp trắng trợn, dựng lên chính quyền tay sai Ngô Ðình Diệm, thực hiện chính sách thực dân mới, mưu đồ chia cắt lâu dài đất nước ta. Chính quyền Mỹ - Diệm tập trung thực hiện biện pháp “tố cộng”, “diệt cộng” đàn áp, khủng bố phong trào yêu nước, trả thù những người kháng chiến cũ, tiêu diệt cơ sở cách mạng ở miền Nam, ban hành Luật 10/59. Cách mạng miền Nam bị dìm trong biển máu. Trong đó, địch coi dân Kiến Hòa (Bến Tre) là bất trị. Chúng huy động lực lượng khoanh vùng, ruồng bố vào từng ấp, từng nhà, lùng sục, xâm hầm bí mật, bắt bớ, bắn giết cán bộ, đảng viên và quần chúng cách mạng. Theo số liệu chưa đầy đủ, từ năm 1954 đến năm 1959, tại Bến Tre, địch đã giết hại 2.519 người, bỏ tù 17 ngàn người, hàng vạn người bị bắt bớ, đánh đập, khảo tra. Sau ngày đình chiến, các xã ở Bến Tre đều có chi bộ với 2.000 đảng viên; cuối năm 1959, toàn tỉnh chỉ còn 18 chi bộ với 162 đảng viên trong 115 xã.Trước tình hình vô cùng khó khăn và cấp bách đó, nhằm chuyển tình thế cách mạng, Hội nghị lần thứ 15 Ban Chấp hành Trung ương Ðảng khóa II đã đề ra chủ trương khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân. Quán triệt và vận dụng Nghị quyết 15, Tỉnh ủy đã phát động và lãnh đạo quần chúng đồng lòng, đồng loạt trên địa bàn tỉnh với 3 ngòi nổ được chọn làm điểm là Ðịnh Thủy, Bình Khánh, Phước Hiệp, huyện Mỏ Cày làm nên cuộc Ðồng khởi vào ngày 17-1-1960, sau đó lan rộng toàn tỉnh. Kết quả từ ngày 17 đến 24-1-1960, ta diệt 37 đồn, bắt 300 tên địch, thu 150 súng cùng nhiều đạn dược, giải phóng hoàn toàn 22 xã và 18 ấp, 4 tiểu đội tuyên truyền đã được xây dựng.Trong Thư vào Nam của cố Tổng Bí thư Lê Duẩn có viết: “Cuối năm 1959, tại nhiều nơi ở Nam Bộ, quần chúng đã vùng lên diệt ác, phá kìm, khiến cho bộ máy tề ngụy của hàng trăm thôn, xã phải tan vỡ. Ðặc biệt, đêm 17-1-1960, dưới sự lãnh đạo của Ðảng bộ tỉnh Bến Tre, nhân dân huyện Mỏ Cày đã nổi dậy khởi nghĩa đồng loạt mở đầu cho một cao trào mới. Từ đó, làn sóng “Ðồng khởi” như nước vỡ bờ lan ra toàn tỉnh Bến Tre và khắp các tỉnh ở Nam Bộ, Tây Nguyên, Trung Trung Bộ…”.Sau Ðồng khởi, Mỹ - Diệm càng đặc biệt quan tâm đến chiến trường Bến Tre. Từ năm 1961 - 1967, chúng tập trung xây dựng Bến Tre thành địa bàn trọng điểm thực hiện chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”, rồi đến “Chiến tranh cục bộ”. Với “Chiến tranh đặc biệt”, chúng dồn dân, lập ấp chiến lược nhằm đánh phá “tận gốc” phong trào đấu tranh của quần chúng. Với “Chiến tranh cục bộ”, Mỹ - ngụy thực hiện chiến lược hai gọng kìm “tìm diệt” và “bình định”, địch tăng cường bắt lính, đôn quân, phát triển ngụy quân, ngụy quyền…Trước cao trào của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, ngày 17-7-1966, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi đồng bào cả nước: “Dù Mỹ trực tiếp đưa vào miền Nam bao nhiêu vạn quân, dù phải chiến đấu 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa, nhân dân Việt Nam quyết chiến đấu đến thắng lợi hoàn toàn!”. Người nêu chân lý: “Không có gì quý hơn độc lập tự do”. Hưởng ứng lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh và phong trào thi đua “Quyết thắng giặc Mỹ!” của Ủy ban Trung ương Mặt trận dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam phát động, Ðảng bộ Bến Tre đã phát động phong trào toàn dân đánh giặc. Phát huy từ thắng lợi Ðồng khởi, quân dân Bến Tre tiếp tục tiến công ba mặt, ba mũi giáp công, đánh bại các cuộc càn quét lớn của địch như: “Cửu Long I”, “Sóng thần 5”, mở chiến dịch Bình Ðại - Ba Tri, đánh bại chiến thuật hạm đội nhỏ trên sông… Những thắng lợi này đã tạo điều kiện cho tỉnh xây dựng và phát triển lực lượng chuẩn bị cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 và tiếp theo.Tháng 1-1968, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Ðảng lần thứ 14 khóa III sau khi phân tích tình hình đã nhận định: Ðịch thất bại một bước rất cơ bản trong chiến lược “Chiến tranh cục bộ”, đang lúng túng, bị động về chiến lược, chiến thuật, do đó, ta phải tranh thủ thời cơ “Chuyển cuộc chiến tranh cách mạng của nhân dân ở miền Nam sang một thời kỳ mới - thời kỳ tiến công và nổi dậy, giành thắng lợi quyết định”. Ðể quyết tâm thực hiện chiến lược đó, nhiệm vụ cấp bách của ta trong thời kỳ mới là động viên, tạo sự nỗ lực cao nhất của toàn Ðảng, toàn dân và toàn quân ta ở cả hai miền, đưa cuộc chiến tranh cách mạng của ta lên bước phát triển cao nhất bằng phương pháp tổng công kích và tổng khởi nghĩa để giành thắng lợi quyết định.



