TỪ “KIỆN TƯỚNG VẬN TẢI” ĐẾN NGƯỜI LÍNH TRÊN MẶT TRẬN XÂY DỰNG QUÊ HƯƠNG
Từng vượt rừng mang trên vai khối lượng hàng hóa, súng đạn, lương thực nặng hơn cả trọng lượng cơ thể để tiếp tế cho chiến trường; khi trở về đời thường, cựu chiến binh Hồ Với lại tiên phong đưa nước sạch, ánh sáng và những giống cây mới về với bản làng. Ở tuổi 93, câu chuyện cuộc đời ông vẫn là minh chứng sinh động cho phẩm chất người lính Cụ Hồ: thời chiến gan dạ, thời bình năng động, không ngại khó khăn.
Tại xã La Lay, nhắc đến cựu chiến binh Hồ Với, nhiều người vẫn nhớ về một người lính từng được đơn vị gọi bằng cái tên “kiện tướng vận tải”.
Nhập ngũ năm 1957, tháng 1/1966, ông được giao nhiệm vụ vận chuyển vũ khí, lương thực phục vụ Sư đoàn 503, Quân khu 5. Khi ấy, người lính Hồ Với chỉ nặng chưa đầy 50kg, nhưng mỗi ngày ông vẫn mang trên vai những chuyến hàng nặng hơn cả cơ thể mình, vượt qua những cánh rừng để đưa súng đạn, lương thực, thuốc men đến chiến trường.
“Mỗi ngày vận chuyển một chuyến. Bỏ súng đạn, lương thực, thuốc men vào gùi rồi cứ thế đi. Thanh niên có sức khỏe lại quyết tâm thắng giặc nên nặng cũng gắng gùi. Lúc đó, tôi được đơn vị gọi là ‘kiện tướng vận tải’”, ông Với nhớ lại.
Những chuyến vận tải giữa rừng sâu là hành trình đối mặt với thiếu thốn, hiểm nguy và bom đạn. Nhưng với người lính trẻ khi ấy, hoàn thành nhiệm vụ là điều quan trọng nhất.
Cuối tháng 8/1966, ông Hồ Với được giao nhiệm vụ hộ tống Đại tướng Nguyễn Chí Thanh ra Hà Nội báo công với Bác Hồ. Sau đó, ông tiếp tục công tác, chiến đấu tại Binh trạm 196 cho đến ngày đất nước hòa bình.
Chiến tranh kết thúc, người lính năm xưa trở về quê hương. Nhưng với ông, cuộc chiến chưa kết thúc. Chỉ khác rằng, “chiến trường” lúc này là những bản làng còn nghèo khó, thiếu nước, thiếu điện và điều kiện sản xuất còn hạn chế.
Những năm đầu thập niên 1980, xã A Bung cũ thường xuyên thiếu nước sinh hoạt. Nhìn bà con phải đi xa tìm nước, ông Hồ Với nhiều đêm trăn trở. Ông vay mượn tiền, lặn lội về Đông Hà mua ống nhựa rồi trở về tự lắp đặt hơn 4km đường ống dẫn nước, đưa nước sạch về cho hơn 80 hộ dân.
Gần nửa thế kỷ trôi qua, công trình ấy vẫn là một dấu ấn về tinh thần dám nghĩ, dám làm của người cựu chiến binh.
Năm 1993, khi bản làng về đêm vẫn chìm trong bóng tối, ông tiếp tục tìm cách đưa ánh sáng về quê. Ông lắp máy phát điện bằng tua-bin, phục vụ gia đình và người dân trong bản.
Không dừng lại ở đó, ông còn tiên phong trong phát triển kinh tế. Năm 2000, ông đưa các giống cây như huê, bời lời đỏ, quế, trắc... về trồng tại địa phương. Gia đình ông từng bước hình thành mô hình sản xuất kết hợp trồng cây, đào ao nuôi cá nước ngọt với diện tích mặt nước hơn 1.000m², tạo nguồn thu nhập ổn định.
Trong gia đình, ông cũng chú trọng việc học tập và rèn luyện của con cháu. Đại gia đình ông hiện có 33 thành viên, trong đó có 14 đảng viên, 9 người có trình độ cử nhân.
Từ một người lính từng mang trên vai những chuyến hàng nặng hơn cơ thể mình giữa chiến trường, đến người cựu chiến binh tìm cách đưa nước sạch, điện và cây trồng mới về bản làng, ông Hồ Với vẫn giữ nguyên tinh thần của người lính năm xưa.
Nếu ngày trước ông gùi từng kiện hàng vượt rừng để góp sức cho ngày đất nước thống nhất, thì hôm nay ông lại dành sức lực và kinh nghiệm của mình để góp phần làm cho quê hương đổi thay.



