Ở quân khu, ngoài giúp việc ông về nghiệp vụ văn phòng và quân sự như huấn luyện, diễn tập, viết, vẽ bản đồ tác chiến... tôi đuợc giao nhiệm vụ cùng phòng văn hoá giúp ông học văn hoá phổ thông trung học. Anh Phạm Tiến Đại, nay là đại tá công tác ở Xuởng phim Quân đội chuyên việc giúp ông học toán.
Năm 1964, ông đuợc điều động về Bộ Tổng tham mưu với cuơng vị là Phó tổng tham mưu trưởng kiêm Giám đốc Truờng Trung cao cấp quân sự. Từ đây có lẽ ông thấy trọng trách của mình đã khác truớc, ông càng ra sức học tập. Theo yêu cầu của ông, tôi sưu tầm đuợc 6 tập luận văn quân sự của Ăng-ghen. Ông đọc rất kỹ, đọc đi đọc lại từng đoạn. Đoạn nào ông thấy tâm đắc đều gạch duới dòng và kẹp giấy đánh dấu. Đến nay, tôi còn lưu giữ cẩn thận đuợc 5 tập với trên 1.300 trang mà ông đã đọc, có bút tích của ông. Lúc đó, ông yêu cầu tôi tìm lại tập tài liệu mấy chục trang in rô-nê-ô do Trần Độ viết về tư tuởng, học thuyết quân sự Xô Viết từ những năm 1960. Thật hiếm có một cán bộ quân sự đọc kỹ hơn ngàn trang sách về tư tuởng, học thuyết quân sự của Mác, Ăng-ghen... Thời đó, tôi rất thích đọc tác phẩm Biện chứng của tự nhiên, Chống Đuy-rinh, Hệ tư tưởng Đức... nên thường xuyên được mạn đàm với ông một cách bình đẳng.
Ông yêu cầu tôi sưu tầm các nghị quyết về quân sự của Đảng, ông đọc và đánh dấu như đọc luận văn quân sự Ăng-ghen. Đến nay, tôi cũng còn lưu giữ đuợc hai cuốn Nghị quyết quân sự của Đảng từ năm 1930-1945 và 1930-1960 với 500 trang in.
Từ chiến truờng Tây Nguyên ở miền Nam, Tướng Hoàng Minh Thảo viết cuốn "Tổ tiên ta đánh giặc" gửi ra Hà Nội tặng Tướng Vương Thừa Vũ. Ở miền Bắc, Tuớng Đỗ Trình cũng viết một tác phẩm "Tổ tiên ta đánh giặc" in rô-nê-ô trên giấy nến. Mặc dầu rất khó đọc, nhưng Tướng Vương Thừa Vũ cũng đọc đi đọc lại nhiều lần.
Ông thuờng xuyên mời anh Phạm Ngọc Phụng là giáo viên Học viện Quân sự tới nhà riêng, trình bày các tác phẩm của anh và Nguyễn Lương Bích viết về Nguyễn Huệ và "Toàn tập Nguyễn Trãi" của Viện Sử học v.v...
Hàng ngày, nhận đuợc điện báo cáo trận đánh từ chiến truờng về, ông yêu cầu Cục Tác chiến vẽ lên bản đồ, ông đặt ra một số câu hỏi, yêu cầu đơn vị trả lời cụ thể. Sau đó, ông cùng Cục Khoa học quân sự, Cục Quân huấn và Cục Nhà truờng nghiên cứu trao đổi rút ra kết luận khách quan, theo sự chỉ đạo của ông điện phổ biến ngay các chiến trường, kể cả việc làm thành phim giáo khoa quân sự để huấn luyện bộ đội.
Trên đường đi công tác, ông thường hỏi chúng tôi về kinh nghiệm chiến đấu của người chiến sĩ, về chỉ huy của cấp phân đội nhỏ. Ông rất chăm chú nghe và bảo: "Không nên đổ khuyết điểm cho người lính. Nguời chỉ huy phải chịu trách nhiệm phần dốt nát, hoặc luời nhác, thiếu trách nhiệm hoặc nhát gan hoặc không sâu sát cụ thể, tỉ mỉ, không biết chỉ dẫn cho chiến sĩ...".
Ông nhấn mạnh: Tình thuơng đối với chiến sĩ là phải giúp họ có bản lĩnh chiến đấu để chiến thắng kẻ thù mà họ vẫn sống trở về với đồng đội, với gia đình. Do đó phải luyện, phải rèn, phải nghiêm khắc; còn nguời chỉ huy thì phải học, phải tập, phải lắng nghe, phải chịu khó, chịu khổ, phải luôn nghĩ tới trách nhiệm của mình truớc bộ đội, truớc nhân dân...
Đến bây giờ nghĩ lại, đọc tiểu sử, xem hồi ký của Tướng Vương Thừa Vũ, biết ông đã đuợc học võ nghệ từ nhỏ. Ở Trung Quốc, được đào tạo gần 4 năm tại một truờng sĩ quan ở Côn Minh, sau đó được học tiếp tại Học viện quân sự Nam Kinh. Nhưng những người sống bên ông, mới biết sự tự học của ông thật rất đáng kính phục và hiếm có. | |
« Sửa lần cuối: 09 Tháng Hai, 2021, 10:46:16 am gửi bởi ptlinh » | Logged
|
|
|
|
Giangtvx Thượng tá  Bài viết: 25560 | 
| Re: Từ mặt trận HN đến các chiến trường« Trả lời #1 vào lúc: 05 Tháng Mười, 2016, 09:44:49 am » |
Ông yêu cầu tôi xếp lịch làm việc, hạn chế tối đa "buộc chân" vào ghế họp, hội nghị liên miên - theo ngôn ngữ nói vui của ông, nhưng cũng hạn chế tối đa "chạy lăng xăng". Do đó, một tuần trừ hai ngày họp với cấp trên, với tập thể thủ truởng Bộ hoặc họp với cơ quan cấp duới, phải dành hai ngày đi đơn vị cơ sở, xuống tận thao truờng, bãi tập (chứ không phải đến nghe báo cáo nhận quà cáp rồi về) còn xếp lịch hai ngày để học tập. Thời chiến tranh quyết liệt, căng thẳng như thế, nhưng thực hiện chỉ thị của Đại tuớng Võ Nguyên Giáp - Bộ trưởng Quốc phòng, cứ thứ bảy hàng tuần, sau khi giao ban, dành nửa ngày, tập thể tướng lĩnh ở Bộ học tập một số chuyên đề như vũ khí hoá học và vũ khí hạt nhân, vũ khí lade, ứng dụng điều khiển học, tâm lý học trong quân sự v.v... Sau khi nghe chung, có điều gì chưa rõ, Tướng Vũ lại mời anh em đến nhà trình bày thêm...
Hàng ngày, sau giờ làm việc với các tuớng lĩnh ở Bộ Tổng tham mưu, ông rất coi trọng tập thể dục và chơi thể thao: người đi bộ, nguời chơi bóng chuyền, quần vợt... Tướng Vương Thừa Vũ rất thích môn bóng bàn. Tướng Vũ Yên mặc quần đùi, cởi trần - người đen như tuợng đồng thuờng xuyên đấu với ông và cười thoải mái (bù lại khi trận đánh Pheo - tỉnh Hoà Bình năm 1952 không thành công, cả hai ông đều khóc nức nở sau khi xé tan tấm bản đồ). Mỗi lúc bàn về chiến thuật, ông kể lại kinh nghiệm chỉ huy chiến đấu để minh hoạ cho chúng tôi nghe, trao đổi với chúng tôi về những bài học khái quát mới loé lên trong đầu ông.
Mặc dầu bận nhiều việc, ông vẫn dành thời gian dạy anh em lái xe nghề mộc, nề và gò, ông bảo: Làm lính rồi cũng có lúc làm dân nên phải học thêm nghề. Riêng vệ sĩ được đi học võ lớp dài hạn, còn chúng tôi, ông dạy một số thế, miếng võ như: cộng lực, chống bắt cóc (gỡ), điểm một số huyệt cần thiết để tự vệ (không nhằm mục đích tấn công hại người...).
Hình ảnh ông dừng xe giữa đoạn đường ở Phủ Lý, Hà Nam dúi vào tay chiến sĩ nấu ăn ít tiền để anh về thăm con làm chúng tôi nhớ mãi. Nhất là khi anh Việt Hồng đi mô tô từ Hà Nội xuống Nam Định gặp ông, trình bày về những nỗi oan của Quốc Đảm (cho đến nay, tôi vẫn chưa hề gặp, biết anh Quốc Đảm). Tướng Vuơng Thừa Vũ bảo tôi mở tủ lấy đôi giầy đen mới đóng (chưa đi), một máy ảnh (do Đoàn quân sự nước ngoài tặng), mảnh vải Tô Châu chưa may thành quân phục... đưa Việt Hồng đem cho Quốc Đảm bán tạm lấy tiền ăn. Rồi ông còn bảo sẽ gặp cấp có thẩm quyền để xem xét cụ thể, nếu oan thì sẽ đuợc giải.
Tướng Vương Thừa Vũ là người chỉ huy sâu sát, tỉ mỉ, cụ thể và có tác phong rất quyết đoán. Cả đời ông phục vụ trong quân ngũ và hầu như lúc nào ông cũng suy nghĩ về cách đánh - chiến thuật mà thuờng chúng ta phải thực hiện trong hoàn cảnh "yếu đánh mạnh, ít địch nhiều" với quan điểm chiến tranh nhân dân. Tuy nhiên về chiến thuật tấn công, ông chỉ đạo tập trung ưu thế đúng mức để đạt đuợc tư tưởng "một diệt, bốn cắt". Quan trọng là phải diệt đuợc chỉ huy, phá vỡ thông tin của đối phương; phải đánh viện binh địch để cắt địch bên ngoài với bên trong, phải cắt được pháo binh với bộ binh địch, cắt không quân địch với mặt đất, cắt xe tăng cơ giới địch với bộ binh địch... Từ bài học chiến dịch Điện Biên Phủ đến các trận đánh Mỹ trên chiến truờng miền Nam, ông rút ra bảy chữ: "Quyết, vây, lấn, tấn, phá, triệt, diệt"...
Thời gian giúp việc Tướng Vương Thừa Vũ, tôi được đi theo ông từ Khu III, Khu IV, đến bờ sông Bến Hải và một số nơi khác để tổ chức bố trí các khu phòng thủ, các trận địa phòng ngự, đến từng điểm tựa thế chân kiềng (từng chốt), thậm chí từng hoả điểm, ụ súng (lô cốt), các loại công sự dã chiến, nguyên khối, công sự moi, đuờng hầm...tôi học tập ở ông phuơng pháp lập các kế hoạch tấn công với các loại hình chiến thuật khác nhau. Tất cả đều thể hiện mưu kế hay, nghi binh, thế trận hiểm (vững chắc) và lực tổng hợp; mưu cao, thế hiểm sẽ tạo thêm lực mạnh. Tướng Vũ cực lực phê phán hữu dũng vô mưu, cũng như chân phương khờ dại, ngây ngô, "lạy ông tôi ở bụi này". Chính vì vậy mà Tướng Vương Thừa Vũ nêu ra tư tưởng chỉ đạo cách đánh: "Giữ bí mật, tạo bất ngờ, giành chủ động, đánh tiêu diệt". Bí mật là sức mạnh to lớn, có giữ đuợc bí mật mới tạo đuợc bất ngờ; bất ngờ thì ít thành nhiều, yếu thành mạnh, giữ đuợc bí mật, tạo được bất ngờ thì dành được chủ động và thực hiện được đánh tiêu diệt. Có tư tưởng chỉ đạo chiến thuật đúng, bài binh bố trận hay, theo Tướng Vũ còn điều quan trọng nữa của người chỉ huy đó là "Điều binh khiển tướng".
Đọc lại các bài viết của ông về chiến dịch Biên Giới thu đông 1950 tiêu diệt 2 binh đoàn lính Pháp, bắt sống Lơ-pa-giơ và Sác-tông, chiến dịch Tây Bắc 1952 diệt đồn Pú Chạng, Nghĩa Lộ bắt sống quan tư Ti-ri-rông v.v... thấy rõ tài điều binh khiển tướng của ông. Đúng là suốt cuộc đời binh nghiệp của Tướng Vũ, hầu như lúc nào ông cũng suy nghĩ về cách đánh, về chiến thuật. Tôi nhớ mãi khi Tướng Vũ nằm trên giường bệnh khoa A1, Viện quân y 108. Biết mình không còn ở dương thế được bao lâu nữa, ông yêu cầu tôi gọi cán bộ chỉ huy Sư đoàn 308 tới. Lúc này ông đã không ngồi dậy được, mà nằm nghiêng cũng phải có người đỡ. Ông cho đặt những điếu thuốc lá nối đuôi nhau dọc thành giường, rồi nói: "Sư đoàn ta đã thành sư đoàn bộ binh cơ giới, có trên một ngàn xe pháo các loại. Nhưng địa hình nước ta rất phức tạp, có một bên là sườn núi cao, một bên là vực sâu hoặc ruộng lầy, rất khó triển khai đội hình chiến đấu. Quân địch tiến công chặt đội hình ta ra từng khúc". Ông lấy tay hất từng điếu thuốc lá rơi xuống đất -nói tiếp: "Thấy đấy, nhiều xe pháo hiện đại mà không có cách đánh đúng thì sẽ bại trận". Nghĩ một lúc, ông lại nói: "Bất cứ binh khí kỹ thuật hiện đại đến thế nào nhưng đã đến Việt Nam phải dùng theo cách đánh của Việt Nam".
Tướng Vương Thừa Vũ đã thanh thản ra đi về cõi Vĩnh Hằng. Ông để lại một tài sản vô giá - theo ông: "Kim bất hoán" nghĩa là "Vàng không đổi". Đó là những kinh nghiệm huấn luyện, chỉ huy và chiến đấu được đúc kết từ mồ hôi, xương máu của bộ đội, của chỉ huy trên các chiến trường và của chính bản thân mình, từ Hà Nội mùa đông năm 1946 đến các chiến trường đánh Pháp, đánh Mỹ, giải phóng và bảo vệ Tổ quốc, với 11 cuốn sách và 119 trang viết tay còn dang dở...
Thiếu tướng. TS NGUYỄN CHU PHÁC | |
Logged
|
|
|
|
Giangtvx Thượng tá  Bài viết: 25560 | 
| Re: Từ mặt trận HN đến các chiến trường« Trả lời #2 vào lúc: 05 Tháng Mười, 2016, 09:47:15 am » |
HÀ NỘI 60 NGÀY KHÓI LỬA(Theo bản in năm 1976) PHẦN THỨ NHẤT VÀI NÉT VỀ HÀ NỘI HÀ NỘI, THĂNG LONG XƯA Năm 1010 (tức năm Canh Tuất), Lý Công Uẩn tức LýThái Tổ đã thiên đô từ thành Hoa Lư về Thăng Long.
(Hoa Lư là kinh đô nước ta dưới thời Đinh và Tiền Lê, nay thuộchuyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình).
Thăng Long nghĩa là Rồng bay. Con Rồng là tượngtrưng cho sức mạnh vô địch, khi trở mình thì rungchuyển trời đất, khi phủ phục thì uy nghi và kiên cường.
Thủ đô nước ta mang cái tên đẹp đẽ và oai hùng đóhơn 800 năm, mãi đến năm 1831 mới đổi là Hà Nội. Hà Nội nằm bên hữu ngạn sông Hồng, phía trước có các sông Cầu, sông Kinh Thầy, sông Thái Bình che chở. Sau lưng tựa vào dãy núi Tam Đảo cao ngất, quanh năm mây mù bao phủ. Bên trái, bên phải có dãy núi ĐôngTriều và Trường Sơn, Tam Điệp chạy dài ra sát biển đông, như hai cánh tay rắn chắc, khuỳnh ra sẵn sàng bảo vê thủ đô yêu dấu. Và Nội là hợp điểm của các đường giao thông thủy bộ, nối liền trung du với đồng bằng, núi rừng với bờ biển. Có lẽ, đó cũng là yếu tố quan trọng để Hà Nội bền vững và phát triển. Và có lẽ đó cũng là nguyên nhân trực tiếp khiến các đội quân xâm lược trước kia cố tình đánh chiếm Hà Nội rồi toả ra xâm chiếm dần cả nước ta.
Hà Nội, 36 phố phường. Đó là những nơi tiêu biểu cho cố đô Thăng Long. Và đó cũng là những "đám lửa" thiêu quân giặc ngay trong lòng Hà Nội những ngày đầu kháng chiến. Xung quanh những phố phường chi chít ấy, ở phía nam và phía tây, biết bao nhiêu biệt thự, lâu đài vừa kiên cố, vừa lộng lẫy, có đường lớn rộng thênh thang, có vườn hoa đủ màu sắc, có những hàng cây cổ thụ xoè bóng mát che kín mặt đường. Trước Cách mạng tháng Tám, đây không phải là những nơi nhân dân ta được ở mà lại là những nơi bọn viên chức trong chính quyền thực dân Pháp chiếm cứ.
Hà Nội qua các triều đại, sự phát triển có khác nhau, nhưng đến năm 1946 thì có diện tích khoảng 152 cây số vuông bao gồm: 20 chợ, 4 bến sông, 4 bến ô tô, 3 ga xe lửa, 18 đường phố, 4 dốc và 24 đại lộ, 249 phố, 55 ngõ với trên 30 vạn người. (Hà Nội năm 1964, dân số khoảng hơn một triệu người và thành phố đã mở rộng hơn hai lần diện tích trước kia). Trong đó có trên một vạn năm ngàn đồng bào theo đạo Thiên Chúa và một số đồng bào theo đạo Cao Đài, Tin Lành. Ở Hà Nội lúc này, ngoài nhân dân ta, còn có trên một vạn Hoa kiều và hàng trăm ngoại kiều Ấn, Pháp, Anh, Nhật, v.v. cư trú.
Từ xưa, Hà Nội đã có nhiều danh lam thắng cảnh và đã là đầu mối sản xuất và lưu thông hàng hoá của bốn phương. Hà Nội ngày càng thịnh vượng, dân số ngày càng đông đúc, phố phường ngày càng phát triển.
Từ Thăng Long đến Hà Nội, thủ đô của ta có gần một ngàn năm lịch sử. Đó là một niềm tự hào của dân tộc ta một dân tộc anh hùng có truyền thống đấu tranh bất khuất, đã từng "lấy ít dịch nhiều, lấy yếu thắng mạnh".
Trở lại trang sử cũ, hẳn ta ai cũng còn nhớ vào năm 1258, sau trận Đông Bộ Đầu, (Nay thuộc huyện Thường Tín, tỉnh Hà Đông ) cửa ngõ phía nam của kinh thành Thăng Long, quân ta đã đánh cho quân Nguyên tan tác phải bỏ chạy về Vân Nam. Năm 1285, sát kinh thành, trong trận Chương Dương lừng lẫy, 50 vạn quân Nguyên đại bại, quân dân ta giành lại Thăng Long. Lần thứ ba, năm 1288. Trần Quốc Tuấn tiêu diệt hoàn toàn thủy quân của giặc ở sông Bạch Đằng. Chủ tướng quân Nguyên là Thoát Hoan hồn bay phách lạc, phải rời bỏ Thăng Long đem quân bộ tháo chạy. Tuy nhiều lần thất bại, nhưng bọn phong kiến phương Bắc vẫn không chịu từ bỏ dã tâm xâm lược của chúng. Năm 1406, nhà Minh lại đem quân giày xéo đất nước ta. Cha con Hồ Quý Ly không được nhân dân và các tầng lớp xã hội tiến bộ lúc ấy ủng hộ nên có chống cự song thất bại. Không chịu khuất phục dưới ách thống trị hà khắc của quân Minh, năm 1418, Lê Lợi, tiêu biểu cho lực lượng xã hội tiến bộ đương thời, dấy cờ khởi nghĩa ở đất Lam Sơn.
Năm 1426, sau chín năm kháng chiến gian khổ, quân ta đã chiếm lại hầu khắp đất đai cả nước và tiến tới vây hãm quân Mình tại kinh thành Thăng Long. Cuộc chiến đấu bao vây địch ở thủ đô diễn ra suốt một năm trời. Vòng vây của quân dân ta ngày càng siết chặt. Trong lúc vây hãm địch, quân dân ta đã tổ chức nhiều đợt tấn công vào thành và đã ba lần đánh tan viện binh của giặc từ Trung Quốc kéo sang. Quân Minh càng đánh càng thua, cuối cùng chúng phải xin giảng hoà và rút về nước. Mùa xuân năm 1428, vừa tròn 10 năm kiên trì chống giặc, dân tộc ta đại thắng, thủ đô yêu quý lại được giải phóng. | |
Logged
|
|
|
|
Giangtvx Thượng tá  Bài viết: 25560 | 
| Re: Từ mặt trận HN đến các chiến trường« Trả lời #3 vào lúc: 05 Tháng Mười, 2016, 09:48:12 am » |
Hơn 300 năm sau, Thăng Long lại ghi vào sử sách những chiến công vô cùng oanh liệt. Năm 1788 , nhà Thanh đã cho Tôn Sĩ Nghị đem 20 vạn quân sang xâm lược nước ta và đánh chiếm Thăng Long. Nhân dân cả nước ta vùng dậy chống giặc. Sau một năm anh dũng kháng chiến, quân ta đã tiến về giải phóng Thăng Long. Sáng mùng 5 tháng giêng (âm lịch) năm 1789, sau khi quân ta diệt các đồn Hạ Hồi và Ngọc Hồi, Nguyễn Huệ đốc quân đánh thẳng vào kinh thành. Tại đồn Loa Sơn (gò Đống Đa), xác giặc chất cao như núi, 20 vạn quân Thanh tan vỡ, xéo lên nhau mà chạy. Trưa mùng 5, Nguyễn Huệ kéo đại quân vào thành Thăng Long, ăn mừng thắng trận.
Chiến công hiển hách ấy đã chấm dứt nạn xâm lược của phong kiến Trung Quốc đồng thời cũng thủ tiêu tận gốc nạn tương tàn giữa các tập đoàn phong kiến Lê - Trịnh - Nguyễn đã diễn ra trong mấy trăm năm, mở đường cho cuộc khôi phục nền thống nhất nước nhà ở đầu thế kỷ XIX.
Gần 100 năm sau khi thoát khỏi ách chiếm đóng của nhà Thanh, ngày 20 tháng 11 năm 1873, thực dân Pháp nổ súng đánh chiếm Hà Nội lần thứ nhất. Mặc dầu nhà nước phong kiến chống cự yếu ớt, nhưng cả Hà Nội vẫn vùng lên chống giặc.
Ngày 25 tháng 1 năm 1882, thực dân Pháp đánh chiếm Hà Nội lần thứ hai. Ngay từ phút đầu, người dân Hà Nội đã tự tay châm lửa đốt nhà mình, hàng dãy phố lửa bốc ngùn ngụt cản bước tiến của giặc. Hàng ngàn người tự vũ trang bằng giáo mác, gậy gộc kẻo đến trước đình Quảng Văn (Cửa Nam bây giờ) xin đi đánh giặc. Mặt khác, khắp nơi đều nhất loạt đánh chiêng, khua trống, gõ mõ, hò reo để hư trương thanh thế và hỗ trợ cho tinh thần chiến đấu của quan quân trong thành. Tướng sĩ của Hoàng Diệu xông lên mặt thành chém đầu quân giặc đến phút cuối cùng.
Nhưng, căm giận thay! Triều đình nhà Nguyễn Gia Long đã phản bội dân tộc, quỳ gối đầu hàng, dâng Tổ quốc ta cho giặc. Hà Nội nung nấu hận thù. Sau đó các phong trào yêu nước, các tổ chức chống thực dân Pháp thống trị liên tiếp nổi lên. Đông Kinh Nghĩa Thục, nhóm sĩ phu yêu nước tiến bộ xuất. hiện khoảng tháng 3 năm 1907. Năm 1908, vụ Hà thành đầu độc của binh sĩ Việt Nam làm nội ứng phối hợp với nghĩa quân Đề Thám đã làm cho thực dân Pháp giật mình hoảng sợ. Tiếp đó, Nguyễn Văn Túy - một công nhân nhà máy xe lửa Gia Lâm và một chiến sĩ Việt Nam quang phục Hội ném bom khách sạn "Gà Vàng” (Con d’or) ở phố Tràng Tiền ngày 26 tháng 4 năm 1913 giết hai tên trung tá Pháp Mông-gơ-răn (Montgrand), Sa-puy (Chapuis) và một số lính Pháp. Hành động đó đã gây chấn động trong toàn quốc.
Tư bản Pháp đặt chân tới Hà Nội. Giai cấp công nhân Việt Nam ra đời và bắt đầu bổ nhát cuốc đầu tiên đào mồ chôn giai cấp bóc lột và bọn đế quốc xâm lược. Các cuộc đấu tranh từ thấp đến cao của công nhân liên tiếp nổ ra. Năm 1919, đã có bãi công của công nhân một số nhà in ở Hà Nội. Năm 1924, công nhân nhà máy rượu bãi công đòi đuổi một tên giám đốc người Pháp. Đặc biệt thời kỳ này, Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí Hội - tiền thân chủ yếu của Đảng Cộng sản Đông Dương - xuất hiện và năm 1926, đặt trụ sở bí mật của Kỳ bộ Bắc Kỳ tại Hà Nội. Từ đó phong trào bãi công ngày càng lan rộng. Ngày 9 tháng 5 năm 1927, Ở Hà Nội, đã nổ ra mấy cuộc biểu tình của khoảng một vạn rưỡi lao động, học sinh và những người buôn bán nhỏ… phản đối tờ "Dân báo" thóa mạ các chiến sĩ cách mạng Việt Nam. Phong trào đấu tranh của quần chúng phát triển. Tổ chức lãnh đạo của giai cấp công nhân Việt Nam được củng cố. Đến nay, nhìn lại dĩ vãng, giai cấp công nhân và nhân dân thủ đô lấy làm tự hào về những sự kiện lịch sử còn lưu truyền: Tháng 3 năm 1929, tại số nhà 5D phố Hàm Long, chi bộ Cộng sản đầu tiên của Đông Dương được thành lập và sau đó Đảng Cộng sản Đông Dương ra đời trong một cuộc hội nghị vào cuối tháng 5 đầu tháng 6 ở phố Khâm Thiên. (Thời kỳ này 3 tổ chức cộng sản ở Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ chưa hợp nhất ). Từ đó, phong trào đấu tranh lại nổ ra liên tục với mục đích và tính chất rõ rệt hơn hẳn các năm về trước. Ở Hà Nội, bọn thực dân Pháp giăng ra cả một mạng lưới nhà tù, cảnh sát, mật thám, v.v. tưởng như không ai có thể lọt được qua mắt chúng. Vậy mà đồng chí Trần Phú, Tổng Bí thư đầu tiên của Đảng Cộng sản Đông Dương đã viết bản luận cương chính trị nổi tiếng ở ngay trong căn nhà của một tên công chức cao cấp Pháp - số 90, Hàng Bông Thợ Nhuộm. Người bồi của tên Pháp nhận đồng chí là người nhà. Sự việc ấy nói lên rằng dù trong hoàn cảnh nào, người chiến sĩ cách mạng cũng luôn luôn được sự ủng hộ của quần chúng cần lao. |
|
|