TỪ MỘT BÀN TAY LÀM NÊN CƠ NGHIỆP (1)
Trong gian nhà tiếp khách của người cựu chiến binh (CCB), doanh nhân Phạm Thanh Xuân được trang hoàng, bày trí giống kiểu phòng truyền thống gia đình. Nhìn từ ngoài vào, phía bên phải được treo kín những bức ảnh lưu niệm của ông chụp với nguyên Chủ tịch nước Trần Đức Lương và nguyên Phó Chủ tịch nước Trương Mỹ Hoa. Tiếp đến là những tấm ảnh của ông chụp cùng nhiều đoàn đại biểu Bộ ngành, tỉnh, huyện mỗi lần đến thăm. Chúng tôi rất có ấn tượng khi ngắm nhìn mấy bức ảnh người thương binh cụt tay t
Trong lời tâm sự của mình với khách, ông nói vui: “Người ta làm nên cơ nghiệp từ hai bàn tay, còn tôi chỉ có một”. Mọi người xem hết hàng chục bức ảnh phía phải xong chuyển sang dãy bên trái là bảng thành tích thật đáng nể, gồm các loại Huân chương, Huy chương, Bằng khen Thủ tướng Chính phủ; rất nhiều Bằng khen của các Bộ Ngành Trung ương và Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Lào Cai... Ông bày trí theo thứ tự từ cao xuống thấp, treo trang trọng chính giữa bức tường là ba tấm Bằng Huân chương Lao động hạng Nhất, Nhì, Ba. Nhìn vào hình ảnh bảng thành tích khá “đồ sộ” ấy là đủ minh chứng cho sự nỗ lực phấn đấu trong suốt mấy chục năm qua của người CCB, doanh nhân Phạm Thanh Xuân trên mảnh đất Bản Lúc, xã Bảo Hà, huyện Bảo Yên cũ.
Ngược dòng thời gian, mùa xuân năm Canh Tuất (1970), từ vùng quê xã Đoàn Tùng huyện Thanh Miện tỉnh Hải Dương cũ, Phạm Thanh Xuân cùng bao thanh niên lên đường nhập ngũ. Sau ba tháng huấn luyện, anh được phiên vào đơn vị lính thông tin, hành quân vào Nam chiến đấu. Đã nhiều lần người lính thông tin phải vượt hiểm nguy dưới mưa bom, bão đạn của địch để nối thông mạch máu liên lạc, phục vụ chỉ huy chiến đấu. Trong trận đánh ác liệt tại thị xã Kom Tum, anh bị đạn pháo giặc găm nhiều mảnh nhỏ vào cơ thể, cướp đi một phầm thị lực của đôi mắt, để lại chiến trường một phần cánh tay trái. Mang trên mình mức thương tật hạng 2/4, Phạm Thanh Xuân trở về làng điền viên gia đình với căn nhà tranh cũ nát, vợ yếu, con thơ. Đầu óc người thương binh bộn bề biết bao điều về cuộc sống và chuyện học hành của con trẻ đang cần tìm lời giải. Nhớ lời Bác Hồ dạy “Thương binh tàn nhưng không phế”, đã giúp CCB Phạm Thanh Xuân có thêm nghị lực vượt qua những mặc cảm về thương tật trên thân thể. Cuối cùng thì cái chất lính không ngại khó ngại khổ đã nhắc nhủ ông quyết tìm ra một con đường đi mới trên trận tuyến chống đói nghèo.
... Sau Tết Nguyên đán năm Nhâm Thân 1992, ông đưa ra quyết định rất táo bạo sẽ “dời đô gia đình” từ Đoàn Tùng, Thanh Miện, Hải Dương lên vùng núi Bảo Hà, tỉnh Lào Cai theo tiếng gọi “Nghe rừng lắm đất, lên đây với rừng”. Đến vùng quê mới ở Bản Lúc ông được chính quyền địa phương xã Bảo Hà quan tâm tạo điều kiện định cư lâu dài thuộc diện ưu tiên hộ gia đình chính sách.Lão nông thương binh có đất vỡ hoang làm ruộng nước, trồng ngô, khoai sắn, đào ao thả cá. Cuộc sống gia đình dần dần bảo đảm nhu cầu sinh hoạt hằng ngày, hằng tháng, cứ qua mỗi năm qua đi lại giảm bớt khó khăn hơn một ít. Niềm vui được nhân lên khi gia đình ông đã tạo dựng được cơ ngơi trang trại rộng hơn chục ha, với gần 400 cây nhãn, vải ngày ngày vươn lên xanh tốt. Ông tận dụng những bãi cỏ dưới tán cây hay bên khe suối để chăn nuôi trâu, bò, dê, tăng thu nhập cho gia đình. Đất không phụ công người cày xới chăm bẵm, mấy năm sau đã đem lại nguồn thu hàng năm từ một vài chục triệu lên cả dăm, bảy chục triệu đồng. Nhà ông có “bát ăn, bát để”, nghèo đói cứ xa dần, các con được ăn học đầy đủ. Ngôi nhà mới khang trang được xây dựng thay thế cho túp lều tranh vách nứa nơi tá túc của “hai trái tim vàng” và đàn con nhỏ thơ ngây. Gia đình ông từng bước đi lên trở thành hộ nông dân có kinh tế khá của Bản Lúc, xã Bảo Hà.
... Sống giữa vùng rừng núi Bảo Hà, ông trăn trở nghĩ suy về lời Bác Hồ dạy “Vì lợi ích 10 năm thì phải trồng cây...” đã thôi thúc người CCB thực hiện ý định làm vườn ươm cây lâm nghiệp. Gia đình ông phân công mỗi người một việc tập trung san gạt tạo dựng mặt bằng, làm hệ thống dẫn nước tưới vào vườn ươm. Ông lặng thầm khăn gói lên đường đi học hỏi, tham khảo một số mô hình ở các địa phương khác, đầu tư thời gian học tập chương trình khuyến nông, khuyến lâm; lặn lội kiếm tìm nguồn cung cấp hạt giống, túi bầu, phân bón. Trở về nhà ông cùng vợ và các con cặm cụi đập nghiền sàng lọc đất, trộn phân NPK theo đúng tiêu chuẩn kĩ thuật rồi đóng bầu gieo thử, đợi ngày hạt giống nẩy mầm... Công việc làm thử ươm cây giống được gọi là thành công, bắt đầu từ năm 1996 cho đến nhiều năm sau, hơn chục ha luôn phủ kín màu xanh. Vườn ươm ông Phạm Thanh Xuân trở thành địa chỉ giao dịch bán cây giống keo, mỡ, quế, bồ đề, trẩu, không chỉ phục vụ bà con trong thôn, trong xã mà lan tỏa đến nhiều xã bạn thuộc các huyện Bảo Yên, Văn Bàn và Bảo Thắng. Ươm cây và bán cây giống mang tên Hợp tác xã nông nghiệp Thanh Phong do ông làm chủ đã tạo việc làm theo thời vụ cho hàng chục lao động là con em bà con người dân tộc trong Bản Lúc. Hàng năm Hợp tác xã Dịch vụ cây giống của ông mang lại thu nhập đáng kể cho người lao động theo thỏa thuận từng ngày công. Riêng gia đình ông cũng có thu nhập từ 150 đến 200 triệu đồng/năm sau khi trừ các khoản chi phí. Nguồn thu nhập của gia đình đã tích cóp được hàng trăm triệu đồng vốn để đầu tư làm một cái gì đó lớn hơn đang đợi ông phía trước. Ông coi nguồn vốn đó là những “viên gạch nhỏ” trong giấc mơ xây “một một ngôi nhà lớn”.
Cũng từ công việc ươm, bán cây giống lâm nghiệp mà ông gắn bó thân thiện với rừng núi. Qua đó giúp ông nhận thấy tiềm năng của thiên nhiên “trăm hoa đua nở” có thể bổ sung thêm nghề nuôi ong. Ông nghĩ vậy rồi lại lao vào học hỏi, bắt chước chỗ nọ, chỗ kia có người nuôi ong cho thu nhập khá. Bắt đầu từ cuối năm 1996, ông làm thử bằng cách bỏ vốn mua gom mấy chục đàn giống ong bản địa của những hộ gia đình nuôi nhỏ lẻ ở các xã vùng núi cao thuộc huyện Văn Bàn, Bảo Yên, Bảo Thắng, Bắc Hà. Không phụ công người, ong của ông dần ổn định và đã nhân giống lên được hơn 100 đàn, mỗi năm cho thu hoạch mấy tấn mật đưa ra thị trường tiêu thụ. Từ trong lao động ông tự mình rút ra bài học cho bản thân rằng nuôi ong bản địa tận dụng nguồn thức ăn hoa trái sẵn có trong tự nhiên, công chăm sóc và thu hoạch mật lại đơn giản. chi phí ban đầu không lớn lắm chỉ mua gỗ tận thu, thuê thợ mộc đóng tổ (đõ ong). Tuy vậy, những năm đầu mới nuôi ong bản địa do chưa hiểu biết nhiều về kỹ thuật vì thế sau một thời gian khai thác mật đã xuất hiện ong bỏ tổ bay đi, số còn lại chết hàng loạt. Xót xa khi thấy ong lũ lượt rã đàn bỏ tổ bay đi và chết, ông coi đó là một thất bại gây thiệt hại thu nhập kinh tế, thất bát vốn đầu tư của gia đình. Đứng trước tình cảnh đó, đòi hỏi bản lĩnh can trường của người lính đã từng một thời “hoa lửa” xông pha nơi trận mạc, không cho phép CCB Phạm Thanh Xuân nản lòng. Thông qua tài liệu hướng dẫn về kỹ thuật chăn nuôi, tham quan một số mô hình đã thành công để học hỏi kinh nghiệm thuần phục tính hoang dã và hay rã đàn đã giúp ông biết cách “níu chân con ong ở lại”.
Qua đọc báo, nghe đài, xem ti vi đã giúp ông có nhận thức sâu sắc về con ong bản địa tuy dễ nuôi nhưng thân hình nhỏ, khả năng hút mật và mang phấn hoa kém nên năng suất mật hạn chế so với giống ong nhập ngoại. Đối với con ong ngoại thân hình to khoẻ hơn ong bản địa nên nó bay xa, có khả năng hút sâu vào trong nhụy hoa, mang được nhiều mật, phấn hoa về tổ. Năm 2000, ông đánh liều dốc hết vốn liến mang vào miền Nam mua một lúc 80 đàn có nguồn gốc xuất xứ từ Italia đưa về vùng núi Bảo Hà. Chỉ vài năm sau ông nhân giống thành công lên hơn 300 đàn, sản phẩm mang lại từ nuôi ong ngoại cao hơn mong đợi, mỗi năm cho thu hoạch từ 6 đến 8 tấn mật, có năm đạt mức kỷ lục gần chục tấn... Mật ong Thanh Xuân tham dự Hội chợ VIETNAM BESTFOOD tổ chức tại Hà Nội cuối năm 2007 đã giành được Huy chương vàng cho sản phẩm đạt tiêu chuẩn chất lượng, an toàn vì sức khoẻ cộng đồng.
Ong ngoại có đặc tính ăn khỏe, khả năng hoạt động tìm kiếm phấn hoa rất xa nhưng phải đảm bảo ấm về mùa đông, thoáng mát về mùa hè. Vào mùa ít hoa, ông phải thuê người di chuyển đàn ong đi “du mục” đến tận những cánh rừng xa, bãi bồi ven sông, ven biển, vào Nam ra Bắc. Khi mùa hoa vải, hoa nhãn nở rộ những đàn ong cùng ông làm chuyến “du lịch” về Bắc Giang, Hưng Yên, Sơn La, Yên Bái, Tuyên Quang, Hà Giang. Mùa hè nóng bức cũng là mùa hoa sú, hoa vẹt nở bung khắp rừng ngập mặn ông lại làm chuyến du lịch đưa ong thăm vùng ven biển Thái Bình... Kinh nghiệm chăn nuôi được tích lũy dầy lên theo tháng năm, ong ngoại của gia đình thương binh Phạm Thanh Xuân theo đó cũng tăng lên gần 900 đàn.
Để mật ong đảm bảo tính cạnh tranh trên thị trường, đòi hỏi sản phẩm phải có nguồn gốc xuất xứ, thương hiệu rõ ràng, mẫu mã bao bì bắt mắt. Công ty TNHH phát triển ong miền núi Thanh Xuân được thành lập do ông làm Giám đốc có sự phân công lao động hợp lý, khoa học theo các đầu mối trại nuôi ong. Mật ong thu về từ máy quay ly tâm được chuyển vào dây chuyền máy hạ thủy phần để cho ra sản phẩm mật ong nguyên chất đạt chuẩn OCOP 4 sao cấp tỉnh. Cùng với mật ong nguyên chất còn có mật ong sữa chúa 4 sao, phấn hoa đạt 3 sao. Bên cạnh đó công ty TNHH phát triển ong miền núi Thanh Xuân có các loại sản phẩm được chế biến sâu theo mùa hoa có nhiều yếu tố tinh dược như mật ong hoa đu đủ đực; mật ong hoa chanh đào; mật ong hoa sơn tra (táo mèo); mật ong hoa tổng hợp ngày càng trở nên nổi tiếng. Những sản phẩm chủ lực của Công ty như mật ong nguyên chất; mật ong phấn hoa sữa ong chúa; phấn hoa và sữa ong chúa được tiêu thụ rộng rãi ở nhiều tỉnh thành trong cả nước.Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn công nhận sản phẩm nông nghiệp chất lượng vàng Việt Nam. Bình quân mỗi năm công ty TNHH phát triển ong miền núi Thanh Xuân đưa ra thị trường tiêu thụ từ 25 đến 30 tấn mật nguyên chất, 2 tấn phấn hoa, khoảng 200 ki lô gam sữa ong chúa. Lợi nhuận thu về cho công ty hơn 1 tỷ đồng/năm, tạo việc làm cho hơn 30 người có thu nhập từ 4 đến 6 triệu đồng/người/tháng. Ông cho biết, đánh đổi những cuộc hành trình “du mục” khắp đó đây dọc ngang đất nước cũng là để đi đến cái đích nâng cao sản lượng và khẳng định thương hiệu sản phẩm chất lượng mật ong nguyên chất.
Qua trao đổi với cấp ủy, chính quyền xã Bảo Hà và thôn Bản Lúc, chúng tôi được biết CCB Phạm Thanh Xuân là chủ hộ gia đình nông dân sản xuất, kinh doanh giỏi tại địa phương. Ông đã cùng bà con đoàn kết đóng góp công sức xây dựng nông thôn mới, xóa đói giảm nghèo bền vững. Đến nay Bản Lúc nơi gia đình ông sinh sống chỉ còn khoảng 10/160 hộ nghèo trong đó chủ yếu là do hoàn cảnh bệnh tật kéo dài. Không chỉ làm giàu cho bản thân, CCB Phạm Thanh Xuân còn hỗ trợ về kỹ thuật và phương pháp nuôi ong mật, mô hình làm kinh tế trang trại cho bà con các dân tộc trong thôn Bản Lúc và xã Bảo Hà. Hằng năm, ông dành tặng hàng trăm suất quà từ sản phẩm nghề ong cho các gia đình chính sách; đóng góp tiền, vật liệu để làm đường giao thông nông thôn mới, xây Nhà văn hóa thôn, trường học; xây dựng các quỹ “Vì người nghèo”, “Đền ơn đáp nghĩa”... Công ty do ông làm chủ là một trong những doanh nghiệp đứng đầu của huyện Bảo Yên cũ.
Bây giờ ở tuổi xưa nay hiếm, sức lao động giảm sút nhanh, lúc trái gió trở trời vết thương đau tái phát bởi vậy ông đã nhanh chóng chuyển giao công nghệ và kinh nghiệm sản xuất chăn nuôi và kinh doanhcho con trai và các thành viên trong công ty.
Trên đường trở về phường Lào Cai làm tôi nhớ đã có một nhà báo viết về ông: - Những con ong cũng học được đức tính cần mẫn ở lão nông Phạm Thanh Xuân, biến những tinh túy từ trăm, ngàn, vạn, triệu bông hoa thành mật ngọt dâng cho đời./.



