TỪ MỘT ĐỨA TRẺ MẤT MẸ ĐẾN NGƯỜI CHỈ HUY TRONG NGÀY GIẢI PHÓNG CẦN THƠ
Có những cuộc đời bắt đầu bằng những mất mát.
Có những đứa trẻ lớn lên mà tuổi thơ không có đủ vòng tay của cha mẹ.
Và cũng có những đứa trẻ, từ rất sớm, đã phải học cách đứng vững giữa những biến động dữ dội của quê hương.
Ở vùng đất Hòa Tú, huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng, một cậu bé đã lớn lên như thế.
Cậu bé ấy sau này trở thành Thiếu tướng, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Lê Hoàng Sương, người mà đồng đội thường gọi bằng cái tên thân mật Út Sương.
Cuộc đời ông gắn với những năm tháng chiến đấu của Tiểu đoàn Tây Đô, với những cánh đồng ngập nước, những tuyến kênh chằng chịt, những trận càn khốc liệt và cuối cùng là ngày 30 tháng 4 năm 1975 – ngày mà ông cùng đồng đội tiến vào giải phóng thành phố Cần Thơ.
Nhưng trước khi trở thành người chỉ huy của một cánh quân tiến vào thành phố, Lê Hoàng Sương từng chỉ là một cậu bé mười ba tuổi đứng trước một quê hương đầy khói lửa.
TUỔI THƠ KHÔNG CÓ ĐỦ BÓNG CHA, BÓNG MẸ
Lê Hoàng Sương sinh năm 1943 tại xã Hòa Tú, huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng, trong một gia đình có truyền thống cách mạng.
Cha ông là một đảng viên hoạt động từ thời kháng chiến chống thực dân Pháp. Sau Hiệp định Genève năm 1954, người cha ở lại miền Nam tiếp tục hoạt động bí mật trong vùng địch kiểm soát.
Nhưng chiến tranh không cho gia đình ấy một cuộc sống bình yên.
Mẹ mất vì bệnh khi các con còn nhỏ.
Một năm sau, người cha bị địch bắt, tra tấn và sát hại.
Năm anh chị em phải tự nương tựa vào nhau, lớn lên trong sự cưu mang của bà con xóm làng.
Những mất mát ấy đến quá sớm.
Nhưng chính trong hoàn cảnh đó, một tình yêu quê hương và ý thức về con đường cách mạng dần được hình thành trong cậu bé Lê Hoàng Sương. Người anh trai thứ tư cũng tham gia cách mạng và hy sinh năm 1962 khi đang giữ chức Huyện đội phó Huyện đội Mỹ Xuyên.
Gia đình lần lượt mất đi những người thân.
Nhưng những mất mát ấy không làm cậu bé lùi bước.
Ngược lại, chúng khiến con đường phía trước trở nên rõ ràng hơn.
Năm 13 tuổi, Lê Hoàng Sương bắt đầu tham gia các phong trào cách mạng ở địa phương.
Đó là một độ tuổi mà ngày nay nhiều người vẫn còn đang ngồi trên ghế nhà trường.
Nhưng trong những năm tháng ấy, tuổi mười ba của một người con miền Tây đã gắn với nhiệm vụ cách mạng.
Từ một cậu bé, ông từng bước trở thành người chiến sĩ.
Và rồi chiến trường Cần Thơ trở thành nơi ghi dấu phần lớn tuổi trẻ của ông.
NHỮNG NGÀY GIỮA ĐỒNG NƯỚC
Năm 1961, Lê Hoàng Sương chính thức nhập ngũ.
Từ đó, cuộc đời ông gắn chặt với Tiểu đoàn Tây Đô.
Những năm 1962–1968, chiến trường Tây Nam Bộ vô cùng ác liệt. Quân đội đối phương sử dụng nhiều phương tiện cơ giới, máy bay trực thăng, pháo binh và xe thiết giáp để tiến hành các cuộc càn quét quy mô lớn.
Trong những năm ấy, Lê Hoàng Sương cùng đồng đội hoạt động trên địa bàn Ô Môn và nhiều khu vực thuộc Cần Thơ.
Đặc biệt, năm 1965, Tiểu đoàn Tây Đô đóng quân dọc hai bên kênh Xáng Thị Đội, huyện Ô Môn.
Mùa nước nổi khiến việc xây dựng công sự gặp nhiều khó khăn.
Đất ruộng phù sa, địa hình sông nước vừa là thử thách, vừa trở thành lợi thế để những người lính Tây Đô phát huy cách đánh phù hợp với địa hình miền Tây.
Đối phương đưa vào trận địa những lực lượng mạnh gồm bộ binh, xe thiết giáp M113, trực thăng chiến đấu và pháo 105mm.
Nhưng Tiểu đoàn Tây Đô không bị động.
Lực lượng ta chủ động tổ chức chống càn rồi chuyển sang tập kích.
Trong trận đánh được nhắc lại trong hồi ức của Lê Hoàng Sương, hai đại đội do ông và Lê Thanh Sơn chỉ huy đã tận dụng địa hình đồng nước để dồn đối phương vào thế bất lợi.
Sau hơn một giờ chiến đấu, lực lượng đối phương chịu tổn thất nặng; phía ta thu nhiều vũ khí và phương tiện thông tin. Sau trận đánh, Tiểu đoàn Tây Đô được tặng Huân chương Quân công hạng Ba, còn Lê Hoàng Sương được tặng Huân chương Chiến công hạng Ba và được giao giữ chức Chính trị viên Đại đội 20.
Chiến trường miền Tây không có những ngọn núi cao che chắn.
Không có những tuyến phòng thủ kiên cố.
Có khi chỉ là một bờ kênh, một bờ ruộng, một rặng cây.
Nhưng chính trên những vùng đất tưởng như bình dị ấy, những trận đánh dữ dội đã diễn ra.
Và những người lính Tây Đô đã biến địa hình quê hương thành thế trận.
LỘ VÒNG CUNG – NƠI TUỔI TRẺ ĐƯỢC THỬ THÁCH
Sau Tết Mậu Thân năm 1968, chiến trường Cần Thơ càng trở nên khốc liệt.
Lộ Vòng Cung trở thành một trong những địa bàn chiến lược mà cả hai bên đều tìm cách kiểm soát.
Những cuộc càn quét diễn ra dồn dập.
Máy bay, pháo binh và xe cơ giới xuất hiện với mật độ cao.
Lực lượng cách mạng phải vừa chiến đấu, vừa bám dân, xây dựng lại cơ sở, củng cố lực lượng.
Trong những năm tháng ấy, Lê Hoàng Sương cùng Tiểu đoàn Tây Đô tiếp tục bám địa bàn.
Có những lần bị thương rất nặng.
Có những thời điểm đồng đội tưởng rằng ông không thể sống sót.
Nhưng sau mỗi lần điều trị, người chiến sĩ ấy lại tìm cách trở về với đơn vị.
Không phải bởi chiến trường thiếu người.
Mà bởi những người từng chiến đấu bên nhau hiểu rằng phía sau mỗi trận đánh còn có đồng đội, có nhân dân và có một nhiệm vụ chưa hoàn thành.
Suốt 14 năm tham gia kháng chiến chống Mỹ, từ một chiến sĩ đến cán bộ đại đội, tiểu đoàn rồi cán bộ chỉ huy, Lê Hoàng Sương vẫn gắn bó với Tiểu đoàn Tây Đô.
Tuổi trẻ của ông gần như được đo bằng những địa danh chiến trường.
Ô Môn.
Lộ Vòng Cung.
Những cánh đồng miền Tây.
Những con kênh.
Những trận càn.
Những đồng đội đã nằm lại.
Và những lần trở về từ ranh giới sinh tử.
NHỮNG NGÀY CUỐI CÙNG TRƯỚC MÙA XUÂN
Năm 1972, Lê Hoàng Sương khi ấy là Tỉnh đội phó, Tham mưu trưởng Tỉnh đội Cần Thơ.
Ông cùng Tiểu đoàn Tây Đô 1 hành quân về Kế Sách, phối hợp với lực lượng cách mạng địa phương chiến đấu tại nhiều khu vực.
Tại Ba Trinh, lực lượng cách mạng từng phải hứng chịu những trận ném bom dữ dội. Nhưng bom đạn không thể xóa bỏ phong trào cách mạng tại địa phương.
Đến đầu năm 1975, tình hình chiến trường thay đổi nhanh chóng.
Thời cơ giải phóng miền Nam đang đến gần.
Khoảng tháng 2 năm 1975, Lê Hoàng Sương được cử đi học lớp Trung cấp Quân sự địa phương do Quân khu 9 tổ chức.
Nhưng lớp học chưa kết thúc.
Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử bắt đầu bước vào giai đoạn quyết định.
Quân khu 9 yêu cầu tập trung lực lượng cho chiến dịch.
Lớp học tạm dừng.
Người chiến sĩ đã trải qua 14 năm chiến đấu lập tức trở lại với chiến trường.
Lần này, nhiệm vụ không còn là giữ từng căn cứ.
Không còn chỉ là chống từng cuộc càn.
Mục tiêu đã ở phía trước:
Giải phóng Cần Thơ.
ĐÊM 28 THÁNG 4 VÀ LỜI HẸN BÊN BẾN NINH KIỀU
Đêm 28 tháng 4 năm 1975.
Trên cánh đồng rộng lớn ở xã Thạnh Xuân, những đơn vị vũ trang Cần Thơ tổ chức cuộc họp triển khai kế hoạch tiến công.
Không khí chiến trường lúc ấy khác hẳn những năm trước.
Ai cũng hiểu rằng thời cơ đã đến.
Những người lính đã đi qua hàng chục trận đánh giờ đứng trước một trận đánh có ý nghĩa đặc biệt.
Trận đánh cuối cùng.
Trận đánh để giải phóng quê hương.
Các cánh quân được phân công theo những hướng khác nhau.
Tiểu đoàn Tây Đô 1 cùng lực lượng biệt động và địa phương quân tiến về Rạch Sung, vượt sông Cần Thơ để tiến vào khu vực trung tâm.
Tiểu đoàn Tây Đô 3 do Phạm Hồng Thấy chỉ huy tiến theo hướng Trà Niền, Nhơn Ái, đánh vào Lộ Vòng Cung và kìm chân đối phương.
Còn Tiểu đoàn Tây Đô 2, cùng Tiểu đoàn 303 của Quân khu 9, do Lê Hoàng Sương chỉ huy, tiến theo hướng Xóm Chài – Cái Răng.
Ba cánh quân.
Ba hướng tiến công.
Một mục tiêu.
Cần Thơ.
Những người lính đã hẹn nhau sẽ gặp lại tại bến Ninh Kiều trong ngày toàn thắng.
Không ai biết trong số những người đang đứng trước mặt mình có ai sẽ không thể đến được điểm hẹn.
Nhưng tất cả đều hiểu rằng lần này, con đường phía trước đã rất gần với ngày hòa bình.
BÌNH MINH TRÊN HƯỚNG XÓM CHÀI
Ngày 30 tháng 4 năm 1975.
Cánh quân do Lê Hoàng Sương chỉ huy tiến theo hướng Xóm Chài.
Từ Vĩnh Long, lực lượng vượt sông Hậu sang hướng Châu Thành B rồi tiến về Xóm Chài và Cái Răng.
Trong khi đó, các cánh quân khác cũng đồng loạt tiến về Cần Thơ.
Đối phương vẫn cố gắng chống trả.
Nhưng hệ thống phòng thủ đã rơi vào thế tan rã.
Ở nhiều nơi, người dân nổi dậy phối hợp với lực lượng cách mạng.
Các cơ sở cách mạng hoạt động trở lại.
Những lá cờ giải phóng bắt đầu xuất hiện.
Tại khu vực Cái Răng, Tiểu đoàn Tây Đô 2 và Tiểu đoàn 303 tiến công các vị trí của đối phương.
Đến chiều 30 tháng 4, nhiều mục tiêu quan trọng đã nằm trong tay lực lượng cách mạng.
Ở trung tâm thành phố, những cánh quân tiếp tục khép vòng vây.
Đến 18 giờ 30 phút, lực lượng cách mạng chiếm Dinh Tỉnh trưởng.
Cần Thơ – trung tâm đầu não của hệ thống chính quyền và quân sự đối phương ở vùng IV chiến thuật – chính thức được giải phóng.
Sau 30 năm chiến tranh, thành phố bước sang một trang mới.
NGƯỜI LÍNH ĐỨNG GIỮA NGÀY TOÀN THẮNG
Có lẽ đối với Lê Hoàng Sương, ngày 30 tháng 4 năm 1975 không chỉ là ngày chiến thắng.
Đó còn là ngày kết thúc một đoạn đời.
Từ cậu bé mười ba tuổi mất mẹ, mất cha.
Từ người thiếu niên bước vào phong trào cách mạng.
Từ người lính trẻ của Tiểu đoàn Tây Đô.
Từ những trận đánh trên kênh Xáng Thị Đội.
Từ những ngày tháng ở Lộ Vòng Cung.
Từ những lần bị thương tưởng không thể sống nổi.
Tất cả những con đường ấy cuối cùng hội tụ về một ngày.
Ngày Cần Thơ được giải phóng.
Nhưng trong niềm vui ấy chắc chắn có những khoảng lặng.
Bởi rất nhiều người đồng đội đã không thể đứng trong hàng ngũ ngày hôm đó.
Những người từng chiến đấu bên nhau đã nằm lại trên những cánh đồng, những bờ kênh, những căn cứ giữa rừng và những tuyến đường dẫn vào thành phố.
Họ đã không thể nhìn thấy bến Ninh Kiều trong ngày toàn thắng.
Họ đã không thể biết lời hẹn năm xưa đã thành hiện thực.
Chính vì thế, mỗi bước chân của những người còn sống trong ngày 30 tháng 4 đều mang theo ký ức về những người đã khuất.
SAU TIẾNG SÚNG LÀ MỘT ĐỜI NHỚ ĐỒNG ĐỘI
Chiến tranh kết thúc.
Nhưng với những người từng trải qua chiến tranh, ký ức không kết thúc vào ngày tiếng súng ngừng vang.
Lê Hoàng Sương tiếp tục công tác trong quân đội, sau này giữ nhiều cương vị, trong đó có Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Sóc Trăng.
Nhưng những năm tháng chiến đấu ở Tây Đô vẫn luôn là một phần sâu đậm trong cuộc đời ông.
Bởi những năm tháng ấy không chỉ có chiến công.
Có cả những người đã nằm lại.
Có những gia đình đã mất con.
Có những người dân từng che chở cho bộ đội.
Có những cơ sở cách mạng đã âm thầm giữ từng đường dây liên lạc.
Có những đồng đội từng chia nhau từng bữa cơm giữa chiến trường.
Và có những người đã không thể đi đến ngày toàn thắng.
Bởi vậy, khi nhắc đến chiến tranh, điều còn lại không chỉ là niềm tự hào.
Đó còn là lòng biết ơn.
MỘT CUỘC ĐỜI ĐI QUA LỬA ĐẠN
Ngày nay, nhìn lại cuộc đời Lê Hoàng Sương, có thể thấy một hành trình đặc biệt.
Một đứa trẻ mất mẹ.
Một người cha bị sát hại.
Một người anh hy sinh.
Một thiếu niên tham gia cách mạng từ năm mười ba tuổi.
Một người lính trưởng thành giữa chiến trường.
Một cán bộ chỉ huy nhiều lần đối mặt với cái chết.
Một người từng bị thương nặng nhưng vẫn trở lại đơn vị.
Một người chỉ huy cánh quân tiến vào Cần Thơ trong ngày 30 tháng 4 năm 1975.
Từ một cậu bé không còn đủ mái ấm gia đình, ông đã cùng hàng nghìn người lính góp phần xây dựng một mái nhà lớn hơn cho cả dân tộc.
Đó là Tổ quốc.
NGÀY HÔM NAY, BẾN NINH KIỀU VẪN Ở ĐÓ
Nửa thế kỷ đã trôi qua.
Cần Thơ hôm nay đã khác rất nhiều.
Những tuyến đường rộng mở.
Những cây cầu nối đôi bờ.
Những khu đô thị mới.
Những giảng đường đầy sinh viên.
Những buổi chiều bình yên bên dòng sông Hậu.
Bến Ninh Kiều vẫn sáng đèn mỗi tối.
Nhưng ít ai biết rằng cách đây hơn nửa thế kỷ, có những người lính đã mang theo một lời hẹn đến nơi này.
Họ hẹn gặp nhau ở bến Ninh Kiều trong ngày toàn thắng.
Có người đã đến.
Có người không bao giờ đến.
Nhưng lời hẹn ấy vẫn được hoàn thành.
Bởi cuối cùng, thành phố đã được giải phóng.
Đất nước đã thống nhất.
Và những người còn sống đã mang ký ức về đồng đội đi tiếp qua những năm tháng hòa bình.
Lê Hoàng Sương là một trong những người đã đi tiếp như thế.
Một đời người có thể được tính bằng số năm đã sống.
Nhưng một cuộc đời có ý nghĩa lại được đo bằng những gì đã để lại.
Từ tuổi mười ba đến ngày toàn thắng, Lê Hoàng Sương đã đi qua 14 năm kháng chiến.
Mười bốn năm ấy là một phần của lịch sử Cần Thơ.
Là một phần của lịch sử Tiểu đoàn Tây Đô.
Và cũng là một phần của lịch sử dân tộc.
Có những người bước vào chiến tranh khi còn là trẻ nhỏ.
Có những người bước ra khỏi chiến tranh khi mái tóc đã bạc.
Nhưng giữa hai thời điểm ấy là một thế hệ đã dành tuổi trẻ cho quê hương.
Lê Hoàng Sương là một trong những người như thế.
Và câu chuyện về ông nhắc thế hệ hôm nay rằng:
Bình yên của một thành phố không tự nhiên mà có.
Phía sau những con đường hôm nay là những bước chân của một thế hệ từng đi qua lửa đạn để giữ lại mùa xuân cho đất nước.


