Từ Mùa Xuân Đại Thắng Đến Dải Biên Cương Khói Lửa
Nối tiếp dòng chảy ký ức của những người lính đi qua hai cuộc chiến, câu chuyện của cựu chiến binh Lương Văn Bình (sinh năm 1954) là một hành trình đầy kiêu hãnh và thử thách. Nhập ngũ năm 1974 khi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đang ở giai đoạn nước rút, và xuất ngũ năm 1982 sau khi đã hoàn thành nghĩa vụ quốc tế cùng cuộc chiến đấu bảo vệ biên cương, 8 năm quân ngũ của ông Bình là một chặng đường dài đầy máu, mồ hôi và những kỷ niệm thắt quặn tình đồng đội.
Bước chân vào khói lửa năm 20 tuổi và trở về khi đã ngấp nghé tuổi ba mươi, ông Bình đã dành trọn vẹn những năm tháng thanh xuân rực rỡ nhất để giữ bình yên cho đất nước.
Từ Mùa Xuân Đại Thắng Đến Dải Biên Cương Khói Lửa
Mùa xuân năm 1974, chàng thanh niên Lương Văn Bình lên đường nhập ngũ với khí thế "Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước". Ông đã cùng các đồng đội kiên cường đi qua những trận đánh khốc liệt của chiến dịch giải phóng miền Nam năm 1975. Những tưởng sau ngày 30/4 lịch sử ấy, người chiến sĩ Lương Văn Bình sẽ được gác súng trở về quê hương, cày cuốc ruộng vườn. Nhưng rồi, sóng gió lại nổi lên ở hai đầu biên giới, ông và đơn vị lại tiếp tục khoác ba lô, hành quân lên chốt chặn nơi biên viễn xa xôi để bảo vệ từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc.
Chiến trường biên giới những năm cuối thập niên 70, đầu thập niên 80 vô cùng gian khổ. Địch rình rập ngày đêm, pháo kích cày xới, sương muối miền biên thủy lạnh thấu xương, và đặc biệt là căn bệnh sốt rét rừng ác tính luôn chực chờ cướp đi sinh mạng của những người lính trẻ.
"Trong gian khổ cùng cực ấy, nếu không có cái tình đồng chí, đồng đội keo sơn, san sẻ cho nhau từ mảnh lương khô, viên thuốc xuyên tâm liên đến hơi ấm trong căn hầm sập, thì chúng tôi khó lòng mà trụ vững." – Ông Bình xúc động nhớ lại.
Kỷ Niệm Vác Bạn Vượt Qua Cơn Sốt Rét Và Làn Đạn Pháo
Trong suốt 8 năm binh nghiệp, kỷ niệm mà cựu chiến binh Lương Văn Bình không bao giờ quên xảy ra vào khoảng năm 1980 trên một cao điểm chốt giữ ở mặt trận phía Bắc. Khi đó, ông và người đồng đội thân thiết tên Nghĩa – người bạn cùng chia nhau chiếc lán sập năm ấy – đang cùng giữ một công sự tiền tiêu.
Giữa lúc tình hình chiến sự đang căng thẳng, ông Nghĩa bất ngờ lên cơn sốt rét rừng ác tính. Người đồng đội run lên bần bật giữa trưa nắng, răng đánh vào nhau lập cập, gương mặt hốc hác, mê sảng nhưng tay vẫn ghì chặt lấy báng súng. Đúng lúc ấy, địch bắt đầu nã pháo dồn dập vào trận địa nhằm mở đường cho bộ binh bò lên. Đất đá bay mù mịt, hầm trú ẩn có nguy cơ bị sập hoàn toàn.
Không thể để bạn nằm lại trong làn mưa pháo, ông Bình vội vã dùng dây dù buộc chặt khẩu súng của hai anh em vào người, rồi cúi xuống cõng ông Nghĩa trên lưng. Một mình ông, vừa cõng người bạn đang hôn mê, vừa lựa chọn từng gốc cây, hốc đá để bò, né tránh những loạt đạn pháo nổ xé lòng. Sức nặng của đồng đội cộng với địa hình dốc đá tai mèo sắc nhọn khiến chân ông Bình rớm máu, hơi thở đứt quãng.
Có những lúc pháo nổ ngay sát bên, ông Bình liều mình nằm đè lên người ông Nghĩa để che chắn mảnh đạn cho bạn. Suốt hai tiếng đồng hồ ghì siết từng bước chân qua cửa tử, ông Bình cuối cùng cũng đưa được ông Nghĩa về đến hầm quân y tuyến sau an toàn. Khi vừa đặt bạn xuống phản tre, nhìn các y sĩ băng bó và tiêm thuốc cho Nghĩa, ông Bình mới đổ ập xuống vì kiệt sức, hai bàn tay rướm máu nhưng lòng nhẹ nhõm vô cùng.
Son Sắt Phẩm Chất Bộ Đội Cụ Hồ
Năm 1982, khi biên cương đã phần nào lặng bớt tiếng súng, cựu chiến binh Lương Văn Bình nhận quyết định xuất ngũ. Ông trở về quê hương với hành trang là chiếc ba lô bạc màu, những vết thương trên da thịt và một tinh thần thép được tôi luyện qua hai thời kỳ chiến đấu gian khổ nhất của dân tộc.
Trở lại với cuộc sống đời thường, dù cuộc sống những năm bao cấp có muôn vàn khó khăn, ông Bình vẫn luôn giữ vững bản lĩnh của người lính. Ông tích cực tham gia lao động, tăng gia sản xuất và cống hiến cho các hoạt động của hội cựu chiến binh địa phương, luôn là chỗ dựa tinh thần vững chắc cho gia đình và chòm xóm.
Đối với ông Lương Văn Bình, khoảng thời gian từ năm 1974 đến 1982 không chỉ là nghĩa vụ với non sông, mà đó là cả một thời tuổi trẻ rực rỡ, kiên cường và đầy nghĩa tình. Câu chuyện về những bước chân cõng bạn vượt qua làn đạn pháo năm xưa mãi là một phần máu thịt, là niềm tự hào vô giá mà ông luôn truyền lại cho con cháu hôm nay về giá trị của hai chữ "Đồng chí"



