Từ ngã ba Đầu Sấu đến nền đồn giặc – Hai lần dựng Đền thờ Bác Hồ
Có những công trình được dựng bằng gạch, ngói và vật liệu bền chắc. Nhưng ý nghĩa làm nên sự trường tồn của Đền thờ Bác Hồ ở Cái Nước được tạo nên từ lòng dân, từ lời hứa trong chiến tranh và từ quyết tâm biến niềm tin thành hiện thực.
Năm 1969, khi hay tin Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời, cán bộ, đảng viên và nhân dân ở vùng Hưng Mỹ, Cà Mau chịu nỗi đau sâu sắc. Trong hoàn cảnh chiến tranh, việc tưởng nhớ Bác không chỉ là tình cảm riêng của mỗi người, mà còn trở thành động lực tinh thần cho cuộc đấu tranh giải phóng quê hương.
Phạm Thị Bay khi ấy là Phó Bí thư Xã ủy Hưng Mỹ. Bà trực tiếp vận động nhân dân góp công, góp cây lá địa phương để dựng nơi thờ Bác tại khu vực ngã ba Đầu Sấu, trên phần đất người dân hiến tặng. Ngôi đền ban đầu được làm bằng vật liệu sẵn có, nhưng mang ý nghĩa tinh thần lớn lao đối với cán bộ và nhân dân.
Theo Báo Cà Mau và Báo Giáo dục và Thời đại, công trình được thực hiện trong vùng còn chịu sự kiểm soát của địch. Ngôi đền phải đối mặt với nguy cơ bị phá hoại, còn việc duy trì công trình giữa chiến tranh luôn gắn với những khó khăn và hiểm nguy.
Sau đó, Phạm Thị Bay được điều động về làm Bí thư xã Tân Hưng Đông. Tại đại hội Đảng bộ xã tháng 10/1974, quyết tâm giải phóng Phân chi khu Cái Nước được gắn với lời hứa xây dựng lại Đền thờ Bác Hồ trên nền đất đồn giặc sau ngày chiến thắng.
Lời hứa ấy có ý nghĩa vượt khỏi việc dựng một công trình tưởng niệm. Đó là quyết tâm giành lại vùng đất đang bị chiếm giữ, để nơi từng tượng trưng cho sự kìm kẹp trở thành nơi nhân dân có thể công khai tưởng niệm Bác và những người đã hy sinh.
Sau thắng lợi, Phạm Thị Bay nhận nhiệm vụ Trưởng ban xây dựng đền thờ. Nhân dân và các đoàn thể tiếp tục đóng góp công sức, vật lực. Theo Báo Giáo dục và Thời đại, công trình mới khởi công ngày 5/1/1975 và khánh thành ngày 29/3/1975, khi cuộc kháng chiến ở Cà Mau chưa kết thúc hoàn toàn.
Ngôi đền được dựng trên nền đất từng là Phân chi khu Cái Nước – một sự chuyển đổi mang ý nghĩa lịch sử sâu sắc. Đất đai không thay đổi, nhưng ý nghĩa của địa điểm đã đổi khác: từ nơi quân địch dùng để kiểm soát địa phương trở thành nơi người dân gửi gắm lòng biết ơn, niềm tin và ký ức về những người đã chiến đấu vì độc lập.
Câu chuyện hai lần dựng đền cũng cho thấy vai trò của cộng đồng trong việc gìn giữ những giá trị tinh thần. Phạm Thị Bay có vai trò vận động và tổ chức, nhưng công trình không thể hình thành nếu thiếu sự đóng góp của người dân. Lịch sử ở đây không phải câu chuyện của riêng một cá nhân, mà là sự kết hợp giữa vai trò người lãnh đạo và sức mạnh chung của nhân dân.
Ngày nay, Đền thờ Bác Hồ tại Cái Nước là địa chỉ giáo dục truyền thống của địa phương. Khi nhắc lại quá trình hình thành công trình, điều cần ghi nhớ không chỉ là ngày khởi công, ngày khánh thành hay địa điểm xây dựng, mà còn là hoàn cảnh mà những người đi trước đã vượt qua để dựng nên nơi tưởng niệm ấy.
Có những công trình được dựng bằng gạch, ngói và vật liệu bền chắc. Nhưng ý nghĩa làm nên sự trường tồn của Đền thờ Bác Hồ ở Cái Nước được tạo nên từ lòng dân, từ lời hứa trong chiến tranh và từ quyết tâm biến niềm tin thành hiện thực.



