Từ người chỉ huy 60 ngày đêm bảo vệ Hà Nội đến vị tướng tiếp quản Thủ đô ngày giải phóng
Trung tướng Vương Thừa Vũ là một trong những vị tướng có cuộc đời binh nghiệp đặc biệt gắn bó với Hà Nội. Ông từng chỉ huy quân dân Thủ đô chiến đấu 60 ngày đêm cuối năm 1946, trở thành Đại đoàn trưởng đầu tiên của Đại đoàn 308, tham gia Chiến dịch Điện Biên Phủ, rồi tám năm sau lại dẫn đoàn quân chiến thắng trở về tiếp quản Hà Nội trong ngày giải phóng Thủ đô.

rung tướng Vương Thừa Vũ tốt nghiệp trường Quân sự Hoàng Phố, trở về Việt Nam theo cách mạng
Trung tướng Vương Thừa Vũ, tên thật Nguyễn Văn Đồi, là một trong những tướng lĩnh nổi bật của Quân đội nhân dân Việt Nam trong cả kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Ông đặc biệt gắn với ba dấu mốc lớn: Chỉ huy trưởng Mặt trận Hà Nội trong 60 ngày đêm cuối năm 1946 - đầu 1947; Đại đoàn trưởng đầu tiên của Đại đoàn 308 - đại đoàn chủ lực đầu tiên của quân đội nhân dân (nay là Sư đoàn bộ binh 308, Quân đoàn 12); Chủ tịch Ủy ban Quân chính Hà Nội khi tiếp quản Thủ đô tháng 10/1954. Sau này ông giữ chức Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam và được phong Trung tướng năm 1974.
Trung tướng Vương Thừa Vũ (1910 - 1980) quê ở làng Vĩnh Ninh, xã Vĩnh Quỳnh, huyện Thanh Trì, TP.Hà Nội (nay là xã Đại Thanh, TP.Hà Nội). Ông sinh ra trong một gia đình nghèo, cha làm thợ nề cho một công ty của Pháp tại Hà Nội.
Năm 1915, do cuộc sống khó khăn, cha mẹ ông phải rời quê sang Côn Minh, Trung Quốc, làm việc theo công ty, còn Nguyễn Văn Đồi khi ấy còn nhỏ được gửi lại cho ông ngoại chăm sóc. Vài năm sau, khi cuộc sống của gia đình dần ổn định, ông được cha mẹ đón sang Côn Minh sinh sống.
Khi trưởng thành, Nguyễn Văn Đồi được người quen giới thiệu vào học nghề tại Nhà máy xe lửa Vân Nam. Nhờ thông minh, chăm chỉ và chịu khó, sau ba năm học việc, ông được nhận làm thợ phụ tại nhà máy.
Trong những năm sống xa quê, ông vừa lao động, học tập, vừa tích cực rèn luyện võ nghệ. Tình yêu quê hương, đất nước luôn thôi thúc Nguyễn Văn Đồi nuôi khát vọng một ngày được trở về, cùng đồng bào đứng lên đấu tranh chống thực dân, giành lại độc lập cho dân tộc.
Chứng kiến nhiều phong trào yêu nước trong nước thất bại, Nguyễn Văn Đồi sớm nhận ra rằng muốn đánh đuổi quân xâm lược không thể chỉ dựa vào lòng dũng cảm và võ nghệ, mà cần được trang bị kiến thức quân sự bài bản. Vì vậy, ông miệt mài học tập, dự thi và trúng tuyển vào Trường Quân sự Hoàng Phố. Sau gần 4 năm học, ông tìm cách liên lạc với các tổ chức cách mạng và những nhà yêu nước Việt Nam để trở về nước hoạt động.
Năm 1941, trên đường về Việt Nam, Nguyễn Văn Đồi bị thực dân Pháp bắt, lần lượt bị giam tại căng Bá Vân (Thái Nguyên), nhà tù Hỏa Lò (Hà Nội) rồi căng Nghĩa Lộ (Yên Bái). Trong tù, ông vẫn cùng các đồng chí làm công tác binh vận, bí mật huấn luyện quân sự và chuẩn bị lực lượng khi thời cơ đến. Vốn giỏi võ, ông còn nhiều lần bảo vệ bạn tù trước sự hành hung của lính canh.
Ngày 9/3/1945, Nhật đảo chính Pháp ở Đông Dương. Lợi dụng thời cơ, Nguyễn Văn Đồi cùng một số đồng chí tổ chức vượt ngục. Dù kế hoạch bị lộ, ông vẫn thoát được vào rừng. Khi bị một nhóm đồng bào dân tộc thiểu số bắt giữ vì nghi là người của Pháp, ông nhanh trí tự nhận mình mang họ Vương. Sau khi hiểu rõ sự việc, người dân cởi trói, che chở và dẫn đường giúp ông tránh quân Pháp. Từ đó, cái tên Vương Thừa Vũ gắn với ông trong những năm hoạt động cách mạng sau này.
Trở thành người chỉ huy Mặt trận Hà Nội, 60 ngày đêm bảo vệ thủ đô
Ngày 15/10/1946, Trung ương Đảng giao Vương Thừa Vũ làm Khu trưởng Khu 11, phụ trách Hà Nội. Tại buổi giao nhiệm vụ, đồng chí Trường Chinh yêu cầu lực lượng Thủ đô phải khẩn trương chuẩn bị chiến đấu, sẵn sàng kìm chân quân Pháp nếu chiến sự nổ ra, tạo thời gian để cả nước bước vào cuộc kháng chiến lâu dài.
Khi cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ tối 19/12/1946, ông trở thành một trong những người trực tiếp tổ chức, chỉ huy cuộc chiến đấu bảo vệ Thủ đô.
Nhiệm vụ đặt ra cho lực lượng vũ trang Hà Nội lúc ấy hết sức đặc biệt. Quân dân Thủ đô không phải giữ thành phố bằng mọi giá, mà phải chiến đấu để giam chân quân Pháp, tạo thời gian cho Trung ương Đảng, Chính phủ, các cơ quan đầu não và lực lượng chủ yếu rút ra vùng căn cứ an toàn, chuẩn bị cho cuộc kháng chiến lâu dài.
Dưới sự chỉ huy của Vương Thừa Vũ và các cán bộ Mặt trận Hà Nội, một thế trận chiến đấu đô thị được hình thành giữa lòng thành phố. Những ngôi nhà được đục tường thông nhau, đường phố dựng chiến lũy, hệ thống giao thông hào được tổ chức để lực lượng chiến đấu có thể cơ động và bám trụ.
Quân dân Hà Nội đã chiến đấu suốt 60 ngày đêm, từ cuối tháng 12/1946 đến tháng 2/1947, giữ chân một lực lượng lớn quân Pháp.
Sau khi hoàn thành nhiệm vụ, Trung đoàn Thủ đô và các lực lượng chiến đấu rút khỏi thành phố, bảo toàn lực lượng để tiếp tục kháng chiến.
Cuộc chiến đấu 60 ngày đêm đã trở thành một dấu mốc lớn trong lịch sử Hà Nội, đồng thời đưa tên tuổi Vương Thừa Vũ gắn chặt với Hà Nội từ đó.
Vị tướng gắn với nhiều mặt trận: Từ chiến trường Bình - Trị - Thiên đến Đại đoàn 308
Sau khi rời Hà Nội, năm 1947, Vương Thừa Vũ được điều vào Khu IV, lần lượt đảm nhiệm các nhiệm vụ Khu phó Khu IV và Phân khu trưởng Phân khu Bình - Trị - Thiên.
Năm 1948, trong đợt phong quân hàm đầu tiên của Quân đội quốc gia và dân quân Việt Nam, ông được phong quân hàm Đại tá.
Đến năm 1949, Vương Thừa Vũ được điều ra Việt Bắc để tham gia một nhiệm vụ đặc biệt quan trọng: xây dựng đơn vị chủ lực quy mô lớn đầu tiên của quân đội.
Ngày 28/8/1949, Đại đoàn 308, còn được gọi là Đại đoàn Quân Tiên Phong chính thức được thành lập tại Thái Nguyên. Đây là đại đoàn chủ lực đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam.
Đại tá Vương Thừa Vũ được giao làm Đại đoàn trưởng, đồng thời kiêm Chính ủy trong giai đoạn đầu. Từ đây, ông trở thành một trong những người đặt nền móng cho quá trình xây dựng các binh đoàn chủ lực của quân đội.
Dưới sự chỉ huy của Vương Thừa Vũ, Đại đoàn 308 tham gia nhiều chiến dịch lớn trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp như Chiến dịch Biên giới năm 1950, Trung du, Đường số 18, Hà Nam Ninh, Hòa Bình, Tây Bắc, Thượng Lào...
Qua mỗi chiến dịch, Đại đoàn 308 từng bước trưởng thành, trở thành một trong những đơn vị chủ lực thiện chiến nhất của quân đội.
Năm 1954, Vương Thừa Vũ tiếp tục chỉ huy Đại đoàn 308 tham gia Chiến dịch Điện Biên Phủ.
Trong đợt tiến công đầu tiên, ông được giao chỉ huy chung trận đánh vào cứ điểm Độc Lập, với sự tham gia của Trung đoàn 88 thuộc Đại đoàn 308 phối hợp cùng Trung đoàn 165 của Đại đoàn 312.
Sau khi cứ điểm Độc Lập bị tiêu diệt, lực lượng ta tiếp tục tạo sức ép khiến quân Pháp tại Bản Kéo tan rã.
Ở những giai đoạn tiếp theo của chiến dịch, Đại đoàn 308 tiếp tục tham gia các trận đánh tại khu vực trung tâm tập đoàn cứ điểm, tổ chức đào hào vây lấn, siết chặt sân bay Mường Thanh và phối hợp với các đơn vị bạn tiến công hệ thống phòng ngự của Pháp.
Ngày 7/5/1954, tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ hoàn toàn thất thủ, đánh dấu thắng lợi quyết định của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.
Sau Chiến thắng Điện Biên Phủ, Đại đoàn 308 tiếp tục hoạt động quân sự ở một số khu vực phía Bắc trước khi bước vào nhiệm vụ đặc biệt: trở về tiếp quản Hà Nội.
Vương Thừa Vũ dẫn quân tiếp quản Hà Nội trong ngày giải phóng Thủ đô
Ngày 28/9/1954, Vương Thừa Vũ được phong quân hàm Thiếu tướng.
Ông đồng thời được giao giữ chức Chủ tịch Ủy ban Quân chính thành phố Hà Nội, có nhiệm vụ tổ chức tiếp quản Thủ đô sau khi quân đội Pháp rút đi theo các thỏa thuận của Hiệp định Giơ-ne-vơ.
Đây là một dấu mốc mang nhiều ý nghĩa trong cuộc đời ông. Đầu năm 1947, chính Vương Thừa Vũ là người cùng các chiến sĩ rút khỏi Hà Nội sau 60 ngày đêm chiến đấu để thực hiện cuộc kháng chiến lâu dài. Tám năm sau, ông trở lại thành phố với tư cách người đứng đầu Ủy ban Quân chính, trong đội hình của đoàn quân chiến thắng.
Ngày giải phóng Thủ đô 10/10/1954, các đơn vị của Quân đội nhân dân Việt Nam, trong đó có Đại đoàn 308 và Trung đoàn Thủ đô, tiến vào tiếp quản Hà Nội.
Chiều cùng ngày, lễ chào cờ được tổ chức tại sân Cột Cờ Hà Nội. Thiếu tướng Vương Thừa Vũ cùng bác sĩ Trần Duy Hưng chủ trì buổi lễ.
Trước đông đảo quân dân Thủ đô, Vương Thừa Vũ đọc lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi đồng bào Hà Nội nhân ngày giải phóng. Sau này, ông từng kể lại rằng đó là một trong những thời khắc xúc động nhất trong cuộc đời quân ngũ của mình.
Một tháng sau, ngày 10/11/1954, ông thay mặt Ủy ban Quân chính ký thông cáo về việc thành lập Ủy ban Hành chính thành phố Hà Nội, do bác sĩ Trần Duy Hưng làm Chủ tịch.
Sau khi hoàn thành nhiệm vụ tiếp quản Hà Nội, từ năm 1955, Vương Thừa Vũ tiếp tục đảm nhiệm nhiều cương vị quan trọng trong quân đội. Ông từng làm Tư lệnh Quân khu Hữu Ngạn, sau đó là Tư lệnh Quân khu 3.
Từ năm 1964, Vương Thừa Vũ giữ chức Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam. Đây là cương vị ông đảm nhiệm trong nhiều năm cho tới cuối đời.
Trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, ông tham gia chỉ đạo công tác xây dựng, huấn luyện và tổ chức lực lượng, vừa phục vụ nhiệm vụ bảo vệ miền Bắc, vừa chuẩn bị cán bộ, bộ đội chi viện cho chiến trường miền Nam.
Ông cũng có thời gian đảm nhiệm cương vị Tư lệnh Quân khu IV và Giám đốc Học viện Quân chính.
Đặc biệt, trước cuộc tập kích đường không chiến lược bằng B-52 của Mỹ vào Hà Nội, Hải Phòng cuối năm 1972, Vương Thừa Vũ với cương vị Phó Tổng Tham mưu trưởng đã cùng các lãnh đạo Bộ Tổng Tham mưu tham gia nghiên cứu, chỉ đạo xây dựng phương án phòng không.
Những đóng góp của ông là một phần trong công tác chuẩn bị cho chiến thắng được gọi là "Điện Biên Phủ trên không" tháng 12/1972.
Nói về Vương Thừa Vũ, Đại tướng Võ Nguyên Giáp từng khẳng định: “Đối với quân đội ta, Trung tướng Vương Thừa Vũ là một nhà lãnh đạo chỉ huy ưu tú… là con người trung thực, tính tình nghiêm nghị với tấm lòng nhân hậu, cương trực thẳng thắn nhưng coi trọng đoàn kết thống nhất…, rất mực dân chủ và yêu thương chiến sĩ…, trải qua các nhiệm vụ được giao, từ chỉ huy trưởng Mặt trận Hà Nội năm 1946, Đại đoàn trưởng 308, cho đến cương vị chỉ huy lãnh đạo các quân khu, Tổng Tham mưu phó Quân đội nhân dân Việt Nam, anh Vương Thừa Vũ luôn đem hết tinh thần và nghị lực hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ”.



