Cựu chiến binh

TỪ NGƯỜI LÍNH KHU 5 ĐẾN VỊ TƯỚNG GIỮ LỬA

Gia Lai30/09/2026Đỗ Thị Hà My - A5 - THPT Như Thanh (Xã Như Thanh)1 lượt xem0 lượt chia sẻ

Có những cuộc đời khi nhìn lại không thể chỉ được đo bằng những chức vụ đã đi qua, những quân hàm đã mang hay những phần thưởng được trao tặng. Có những con người trưởng thành từ một vùng quê nghèo, bước vào cách mạng khi tuổi đời còn rất trẻ, rồi đi qua hết chiến trường này đến chiến trường khác để cuối cùng trở thành những người góp phần làm nên diện mạo của Quân đội nhân dân Việt Nam trong những năm tháng gian lao nhất. Thượng tướng Nguyễn Nam Khánh là một con người như vậy. Ông sinh tháng 2 năm 1927 tại xã Bình Phú Tây, nay là xã Tây Phú, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định, trong một gia đình nông dân và là người con lớn nhất trong năm anh em trai. Tuổi trẻ của ông gắn với quê hương Bình Định, với những năm tháng đất nước còn chìm trong cảnh mất nước và với một con đường mà khi đã lựa chọn, ông đi gần như trọn cuộc đời. Tháng 7 năm 1945, Nguyễn Nam Khánh tham gia cách mạng; tháng 8 năm ấy ông nhập ngũ và đến tháng 5 năm 1946 được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Từ một chiến sĩ, ông lần lượt trở thành cán bộ trung đội, đại đội trưởng rồi đảm nhiệm những cương vị ngày càng cao trong kháng chiến chống Pháp trên chiến trường Liên khu 5.

Những năm đầu trong quân ngũ là quãng thời gian Nguyễn Nam Khánh trưởng thành giữa một cuộc chiến còn nhiều thiếu thốn và khắc nghiệt. Từ tháng 8 năm 1945 đến cuối năm 1947, ông lần lượt là chiến sĩ, cán bộ trung đội, Đại đội trưởng Chi đội Phú Yên và Ủy viên chi đội. Sau đó, ông đảm nhiệm công tác chính trị tại Phân khu 15 và tham gia công tác nghiên cứu ở Liên khu 5. Từ năm 1951 đến năm 1955, ông tiếp tục giữ nhiều cương vị chính trị trong các đơn vị, trong đó có Chính trị viên Tiểu đoàn 19, Trung đoàn 108, Chủ nhiệm Chính trị Trung đoàn 803, Chính ủy Trung đoàn 108 thuộc Sư đoàn 305 và Phó Chủ nhiệm Chính trị Sư đoàn 305. Con đường ấy cho thấy sự trưởng thành của ông không diễn ra trong một sớm một chiều mà qua nhiều cấp đơn vị, nhiều nhiệm vụ và nhiều năm chiến đấu. Từ một người lính trẻ ở chiến trường miền Trung, Nguyễn Nam Khánh dần trở thành một cán bộ có kinh nghiệm cả về công tác chính trị lẫn chỉ huy đơn vị. Đó cũng là nền tảng để sau này ông có thể đảm nhiệm những nhiệm vụ lớn hơn trong những chiến trường khốc liệt của cuộc kháng chiến chống Mỹ.

Sau Hiệp định Genève năm 1954, đất nước tạm thời bị chia cắt. Nguyễn Nam Khánh tập kết ra miền Bắc và tiếp tục con đường học tập, rèn luyện. Tháng 3 năm 1956, ông được cử đi học chính trị tại Trung Quốc; sau đó, từ năm 1958 đến năm 1961, ông công tác tại Cục Tuyên huấn, Tổng cục Chính trị, lần lượt làm cán bộ nghiên cứu, Phó Trưởng phòng Huấn luyện rồi Trưởng phòng Giáo dục. Một đồng nghiệp từng làm việc cùng ông tại Cục Tuyên huấn là người sau này trở thành Đại tướng Nguyễn Chí Thanh? Không, những tư liệu chính thống về Nguyễn Nam Khánh không xác nhận một chi tiết như vậy, vì thế không nên gán cho ông những cuộc gặp hay lời nhận xét không có nguồn rõ ràng. Điều có thể xác nhận là trong giai đoạn này, ông tham gia xây dựng chương trình giáo dục chính trị và nghiên cứu, huấn luyện cán bộ, nghĩa là từ kinh nghiệm chiến trường ông chuyển sang một công việc đòi hỏi khả năng hệ thống hóa và truyền đạt. Chính quãng thời gian ấy đã bổ sung cho ông một phương diện quan trọng: người cán bộ quân đội không chỉ biết chiến đấu mà còn phải biết xây dựng con người và xây dựng tổ chức.

Năm 1961, Nguyễn Nam Khánh trở lại chiến trường miền Nam. Ông lần lượt giữ các cương vị Chính ủy Lữ đoàn 305, Phó Chính ủy Sư đoàn 304 và sau đó là Chính ủy Sư đoàn 3, Quân khu 5. Đây là lúc cuộc chiến ở miền Nam bước vào một giai đoạn mới, quy mô ngày càng lớn và khốc liệt hơn. Năm 1964, ông được giao làm Phó Chính ủy Sư đoàn 304, cùng tập thể lãnh đạo đơn vị tổ chức hành quân vượt Trường Sơn vào chiến trường Tây Nguyên. VietnamPlus, dẫn nguồn TTXVN, cho biết Sư đoàn 304 sau đó tham gia chiến đấu tại Ia Đrăng, một trong những trận đánh có ý nghĩa lớn trong giai đoạn đầu quân đội ta trực tiếp đối đầu với quân Mỹ trên chiến trường miền Nam. Trong hồi ký và những bài viết sau này, Nguyễn Nam Khánh cũng dành sự chú ý đặc biệt cho những cán bộ, chiến sĩ đã chiến đấu tại Ia Đrăng. Một nhân vật được ông nhắc đến là Đại úy Lê Xuân Phôi, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 8, người đã hy sinh trong trận chiến tại thung lũng Ia Đrăng. Những dòng hồi ức ấy cho thấy sau những bản tổng kết chiến dịch, điều còn lại trong ký ức của một người chỉ huy vẫn là con người cụ thể, là đồng đội đã chiến đấu bên cạnh mình và những người không thể trở về.

Trong những năm ở Khu 5, Nguyễn Nam Khánh không chỉ là một cán bộ chính trị đứng phía sau trận đánh. Ông trực tiếp gắn bó với những đơn vị chủ lực và những địa bàn chiến đấu ác liệt. Từ Chính ủy Sư đoàn 3, ông trở thành Chủ nhiệm Chính trị rồi Phó Chính ủy Quân khu 5, đồng thời là Khu ủy viên Khu 5. Báo Quân đội nhân dân từng đăng hồi ức của một đồng chí có nhiều năm cùng công tác với Nguyễn Nam Khánh, kể lại rằng hai người từng làm việc với nhau tại cơ quan Tổng cục Chính trị sau chiến thắng Điện Biên Phủ, rồi đến năm 1961 lại gặp nhau ở chiến trường Khu 5. Nhân chứng ấy nhớ Nguyễn Nam Khánh là người cương trực, thẳng thắn và nhiệt tình với công việc. Giá trị của lời kể nằm ở chỗ đó không phải là một nhận xét được dựng lên sau này để tô đẹp hình ảnh một vị tướng, mà là ký ức của một người từng làm việc cùng ông trong cả thời bình lẫn thời chiến. Những lời kể như vậy giúp chân dung Nguyễn Nam Khánh hiện lên gần hơn với đời sống thật: một người chỉ huy có cá tính mạnh, có yêu cầu cao đối với công việc nhưng đồng thời để lại tình cảm sâu sắc trong những người từng cùng ông trải qua những năm tháng gian khổ.

Có một câu chuyện nhỏ được Báo Quân đội nhân dân ghi lại qua lời kể của Đại tá Nguyễn Đình Ngật, nguyên Chánh văn phòng Bộ tư lệnh Quân khu 5, khiến hình ảnh Nguyễn Nam Khánh trở nên đặc biệt gần gũi. Trong những năm 1969–1975, Nguyễn Đình Ngật có nhiều thời gian công tác ở chiến trường Khu 5 và sau này kể lại rằng ông không bao giờ quên một chiếc áo ấm mà Nguyễn Nam Khánh đã trao cho mình trong một đêm ở chiến khu. Đó chỉ là một kỷ niệm nhỏ giữa vô số sự kiện lớn của chiến tranh, nhưng chính những điều nhỏ bé như vậy lại khiến lịch sử không còn là những trang giấy lạnh lùng. Một vị tướng sau này giữ cương vị cao trong quân đội cũng từng là người sống giữa chiến trường, nơi một chiếc áo ấm trong đêm lạnh có thể trở thành một kỷ niệm được người lính giữ lại suốt nhiều năm. Nguyễn Đình Ngật là nhân chứng có thật của những năm tháng ấy, và lời kể của ông giúp người đọc nhìn thấy một Nguyễn Nam Khánh không chỉ qua những trận đánh và chức vụ, mà còn qua mối quan hệ giữa người chỉ huy với những người cùng sống, cùng làm việc trong chiến khu.

Bước vào mùa Xuân năm 1975, cuộc chiến đã đi đến giai đoạn quyết định. Nguyễn Nam Khánh khi ấy là Phó Chính ủy Quân khu 5, được phân công trực tiếp chỉ đạo Sư đoàn 3 trong trận tiến công đường 19 ở khu vực Bình Khê và An Khê, tỉnh Bình Định. Đây là một hướng có ý nghĩa chiến lược vì đường 19 nối Tây Nguyên với đồng bằng Khu 5, đồng thời là tuyến tiếp vận và đường rút quan trọng của đối phương. Theo TTXVN, Nguyễn Nam Khánh trực tiếp chỉ đạo Sư đoàn 3 chuẩn bị phương án và tổ chức chiến đấu trong điều kiện đối phương chống trả quyết liệt. Trong năm ngày tiến công, Sư đoàn 3 đã làm chủ một đoạn đường dài, tạo ra sự chia cắt giữa Tây Nguyên và đồng bằng Khu 5. Những con số về kết quả trận đánh được TTXVN dẫn lại từ các nguồn quân sự đương thời, nhưng điều quan trọng hơn đối với câu chuyện về Nguyễn Nam Khánh là vị trí của ông trong thời khắc ấy: một người con Bình Định trở lại chiến trường quê hương, trực tiếp tham gia chỉ đạo trận đánh mở đầu cho chiến dịch Mùa Xuân 1975 trên chiến trường Khu 5.

Đó cũng là một trong những cao trào của cuộc đời quân sự Nguyễn Nam Khánh. Sau nhiều thập niên chiến đấu, từ những ngày đầu ở Phú Yên, qua những năm kháng chiến chống Pháp, rồi Trường Sơn, Ia Đrăng và những năm tháng Khu 5, ông trở lại chính vùng đất Bình Định trong thời điểm lịch sử đang chuyển mình rất nhanh. Từ tháng 3 năm 1975, hàng loạt chiến trường thay đổi, các lực lượng cách mạng liên tiếp giành được những thắng lợi lớn và cục diện chiến tranh chuyển sang một giai đoạn hoàn toàn khác. Những người từng chiến đấu suốt nhiều năm lúc ấy đứng trước một nhiệm vụ mà thế hệ của họ đã theo đuổi trong gần ba mươi năm: tiến tới ngày đất nước thống nhất. Nguyễn Nam Khánh không phải người duy nhất làm nên bước ngoặt ấy, càng không thể tách riêng chiến thắng khỏi sự hy sinh và đóng góp của hàng triệu cán bộ, chiến sĩ và nhân dân, nhưng ông là một trong những người trực tiếp có mặt ở một mắt xích quan trọng của cuộc tiến công mùa Xuân. Chính vì vậy, khi nhìn lại cuộc đời ông, trận đánh đường 19 không chỉ là một sự kiện quân sự mà còn giống như một điểm nối giữa những năm tháng tuổi trẻ và thời khắc đất nước đi đến thắng lợi cuối cùng.

Sau ngày đất nước thống nhất, Nguyễn Nam Khánh trở lại miền Bắc và tiếp tục đảm nhiệm nhiều trọng trách trong quân đội. Từ tháng 6 năm 1978 đến tháng 3 năm 1979, ông là Hiệu trưởng Học viện Chính trị, Bí thư Đảng ủy Học viện Chính trị. Tháng 4 năm 1979, ông được bổ nhiệm làm Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, Bí thư Đảng ủy cơ quan Tổng cục Chính trị. Ông giữ cương vị Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị trong hơn mười bảy năm, từ năm 1979 đến khi nghỉ công tác năm 1997. Năm 1977, ông được phong quân hàm Thiếu tướng; năm 1984 là Trung tướng và năm 1988 là Thượng tướng. Ông đồng thời là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng các khóa V, VI, VII và Ủy viên Đảng ủy Quân sự Trung ương. Những vị trí ấy cho thấy cuộc đời quân ngũ của Nguyễn Nam Khánh không kết thúc cùng tiếng súng trên chiến trường mà tiếp tục chuyển sang một nhiệm vụ khác: xây dựng quân đội trong thời bình, chăm lo công tác chính trị và góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ sau chiến tranh.

Những năm cuối đời, Nguyễn Nam Khánh vẫn viết hồi ký, viết sách, viết báo và nói chuyện truyền thống với các thế hệ trẻ. TTXVN ghi lại rằng sau khi nghỉ công tác, ông vẫn dành thời gian truyền đạt kinh nghiệm cho lớp trẻ và viết về những người đã hy sinh trong chiến tranh. Điều đó có lẽ là một khoảng lắng đáng nhớ khi nhìn lại cuộc đời ông. Sau tất cả những chiến trường, những chức vụ và những năm tháng quân ngũ, điều ông không quên vẫn là những chiến sĩ đã ngã xuống và những người dân từng che chở cho bộ đội. Chiến tranh đã kết thúc từ lâu, nhưng ký ức về những người không trở về không vì thế mà mất đi. Với một người từng trải qua nhiều cuộc trường chinh, khoảng lặng sau chiến tranh có lẽ không phải là sự quên đi, mà là cách nhìn lại để hiểu giá trị của những gì đất nước đã phải trả giá mới có được. Chính trong khoảng lặng ấy, câu chuyện về Nguyễn Nam Khánh trở nên sâu hơn những chiến công, bởi nó nhắc người đọc rằng lịch sử được làm nên bởi những con người bằng xương bằng thịt, có đồng đội, có mất mát và có những ký ức họ mang theo suốt cuộc đời.

Ngày 20 tháng 10 năm 2013, Thượng tướng Nguyễn Nam Khánh từ trần tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108, hưởng thọ 86 tuổi. Tang lễ của ông được tổ chức theo nghi thức Lễ tang cấp Nhà nước; ngày 24 tháng 10 năm 2013, ông được an táng tại Nghĩa trang Mai Dịch, Hà Nội. Đảng và Nhà nước đã trao tặng ông nhiều phần thưởng cao quý, trong đó có Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huân chương Quân công hạng Nhất, Huân chương Chiến thắng hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhất và Huy hiệu 65 năm tuổi Đảng. Nhưng khi một con người đã đi qua chiến tranh và trở về với cuộc sống đời thường, những phần thưởng ấy có lẽ chỉ là một cách để lịch sử ghi nhận công lao, còn ký ức về họ lại được giữ bằng những câu chuyện của đồng đội. Đại tá Nguyễn Đình Ngật nhớ một chiếc áo ấm giữa chiến khu; những đồng nghiệp nhớ một người cương trực, thẳng thắn; những trang hồi ký của chính Nguyễn Nam Khánh lưu lại hình ảnh những người lính đã chiến đấu và hy sinh. Mỗi mảnh ký ức là một phần nhỏ, nhưng khi ghép lại, chúng tạo nên chân dung của một thế hệ đã sống trong một thời đại mà tuổi trẻ thường được tính bằng những năm tháng ở chiến trường.

Hôm nay, chúng ta không còn sống trong hoàn cảnh mà Nguyễn Nam Khánh từng sống. Một người trẻ có thể đến trường trong buổi sáng yên bình, có thể học tập, lựa chọn nghề nghiệp, theo đuổi ước mơ và tự quyết định con đường tương lai của mình. Khoảng cách giữa tuổi trẻ hôm nay và tuổi trẻ của Nguyễn Nam Khánh vì thế rất lớn, nhưng chính khoảng cách ấy lại khiến câu chuyện của ông trở nên đáng nhớ hơn. Thế hệ trước đã phải dùng tuổi thanh xuân để bảo vệ đất nước trong chiến tranh; thế hệ hôm nay có trách nhiệm dùng tuổi thanh xuân để học tập, lao động, sáng tạo và xây dựng đất nước trong hòa bình. Không cần tìm kiếm những điều quá lớn lao mới có thể tiếp nối truyền thống. Một học sinh biết nghiêm túc với việc học, biết giữ lời hứa, biết chịu trách nhiệm với công việc của mình, biết trân trọng lịch sử và biết sống tử tế với những người xung quanh cũng đang góp một phần nhỏ vào tương lai của đất nước. Điều Nguyễn Nam Khánh để lại không chỉ là những chức vụ hay quân hàm, mà còn là một hành trình cho thấy con người có thể trưởng thành từ gian khó, có thể học hỏi qua từng chặng đường và có thể tiếp tục cống hiến ngay cả khi chiến tranh đã lùi xa.

Có những người khi còn sống đứng giữa những biến động lớn của lịch sử, nhưng khi họ ra đi, điều còn lại không phải lúc nào cũng là âm vang của những trận đánh. Đôi khi đó là một chiếc áo ấm được trao giữa chiến khu, một trang hồi ký nhắc đến người đồng đội đã hy sinh, một lời kể của người từng làm việc bên cạnh, hay một cái tên được thế hệ sau tìm đọc trong những trang sử. Nguyễn Nam Khánh đã đi qua những năm tháng như thế. Từ chàng trai Bình Định tham gia cách mạng tháng 7 năm 1945 đến người chiến sĩ trên chiến trường Liên khu 5, từ Chính ủy Sư đoàn 3 đến Phó Chính ủy Quân khu 5, từ người chỉ huy trong những năm chiến tranh đến Thượng tướng và cán bộ lãnh đạo của quân đội trong thời bình, cuộc đời ông trải dài qua những bước ngoặt quan trọng của đất nước. Khi kể lại câu chuyện ấy, điều đáng nhớ nhất không phải là đặt một con người lên một bệ cao xa cách, mà là hiểu rằng lịch sử được làm nên từ những lựa chọn của những con người rất cụ thể. Nguyễn Nam Khánh đã chọn con đường của mình khi đất nước còn nhiều gian khó và đi trên con đường ấy cho đến cuối đời. Còn với chúng ta hôm nay, ký ức về ông có thể trở thành một lời nhắc lặng lẽ rằng tuổi trẻ chỉ đi qua một lần, và giá trị của tuổi trẻ không nằm ở việc ta được sống trong một thời đại dữ dội đến đâu, mà ở việc ta đã làm gì có ích cho quê hương, cho cộng đồng và cho tương lai trong thời đại mình đang sống.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn