Khác

Từ Nguyễn Ái Quốc đến Hồ Chí Minh: Hành trình của một nhân cách, một thời đại

Cần Thơ28/10/2026Đoàn phường Bà Rịa (Phường Bà Rịa)1 lượt xem0 lượt chia sẻ
Từ Nguyễn Ái Quốc đến Hồ Chí Minh: Hành trình của một nhân cách, một thời đại

Có những con người sinh ra không phải để sống một cuộc đời bình thường, mà để trở thành biểu tượng của cả một dân tộc, một thời đại. Hồ Chí Minh là con người như thế. Từ một cậu bé làng Sen mang tên Nguyễn Sinh Cung, qua bao thăng trầm của lịch sử, Người đã trở thành lãnh tụ vĩ đại của cách mạng Việt Nam, một nhà tư tưởng, một nhà văn hóa kiệt xuất mà cả thế giới phải cúi đầu kính phục. Nhưng điều làm nên sự vĩ đại của Người không chỉ là những chiến công hay những tác phẩm đồ sộ, mà chính là một trái tim luôn đập vì dân, vì nước, một nhân cách trong sáng đến mức ngay cả trong xiềng xích và ngục tù, Người vẫn tỏa sáng như một vì sao không bao giờ tắt.

Ngày 5 tháng 6 năm 1911, từ bến cảng Nhà Rồng, người thanh niên Nguyễn Tất Thành bước lên con tàu Amiral Latouche Tréville với một hành trang duy nhất: lòng yêu nước cháy bỏng và khát vọng giải phóng dân tộc khỏi ách thực dân. Ai có thể ngờ rằng chàng trai trẻ ấy, với đôi bàn tay trắng và một quyết tâm sắt đá, lại có thể làm nên những điều vĩ đại đến thế . Người đã đi qua bao nhiêu châu lục, làm đủ nghề để sinh sống và quan sát, để rồi cuối cùng, tại Paris năm 1920, khi đọc được "Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa" của Lênin, Người đã tìm thấy con đường cứu nước mà mình hằng tìm kiếm bấy lâu. Đó không chỉ là một bước ngoặt tư tưởng, mà còn là khoảnh khắc một con người cá nhân trở thành một chiến sĩ cộng sản, từ chủ nghĩa yêu nước chân chính bước lên con đường cách mạng vô sản.

image.png

Chính từ hành trình ấy, tác phẩm "Bản án chế độ thực dân Pháp" ra đời như một tiếng sét giữa trời quang. Viết bằng tiếng Pháp trong những năm 1921-1925 và xuất bản lần đầu tại Paris năm 1925, tác phẩm không chỉ là một bản cáo trạng đanh thép vạch trần bản chất tàn bạo của chủ nghĩa thực dân mà còn là một áng văn chính luận sắc bén, chứa đựng những luận điểm cách mạng mang tầm thời đại . Nguyễn Ái Quốc đã không viết bằng sự căm phẫn mù quáng, mà bằng lý trí lạnh lùng của một người đã tận mắt chứng kiến, tận tai nghe thấy những bất công trên khắp các thuộc địa. Hình ảnh "con đỉa hai vòi" – một vòi hút máu giai cấp vô sản chính quốc, một vòi hút máu nhân dân thuộc địa – đã trở thành một trong những ẩn dụ chính trị sắc sảo nhất của thế kỷ XX . Đọc những trang viết ấy, ta không chỉ thấy một nhà cách mạng, mà còn thấy một nhà văn hóa lớn, một người có khả năng lay động lương tri của cả nhân loại bằng ngôn từ.

Nhưng nếu chỉ có "Bản án chế độ thực dân Pháp", Hồ Chí Minh mới chỉ là một nhà tư tưởng. Phải đến "Nhật ký trong tù", người ta mới thấy hết vẻ đẹp tâm hồn của một con người mà thân thể bị giam cầm nhưng tinh thần thì bay cao như cánh hạc giữa trời tự do. Tháng 8 năm 1942, khi bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt giam vô cớ tại Túc Vinh, Quảng Tây, Người đã trải qua hơn mười ba tháng trong mười tám nhà lao khác nhau . Ấy vậy mà từ trong ngục tối, 134 bài thơ chữ Hán đã ra đời, không phải để than thân trách phận, mà để ghi lại một cách trung thực và đầy chất thơ những gì Người chứng kiến, và hơn hết, để bộc lộ một tâm hồn luôn hướng về Tổ quốc, về đồng bào. Có những vần thơ khiến người đọc phải rơi lệ: "Ngoại cảm trời Hoa cơn nóng lạnh” “Nội thương đất Việt cảnh lầm than" . Nỗi đau của một người tù không chỉ là nỗi đau thể xác, mà là nỗi đau của một người cha già dân tộc nhìn thấy quê hương còn chìm trong lửa đạn. Và có những vần thơ khiến người ta phải ngẩng đầu kính phục: "Canh bốn, canh năm vừa chợp mắt” “Sao vàng năm cánh mộng hồn quanh" . Trong ngục tối, Người vẫn mơ về lá cờ Tổ quốc, vẫn tin vào ngày mai tươi sáng. Nhà thơ Hoàng Trung Thông đã từng viết: "Vần thơ của Bác vần thơ thép” “Mà vẫn mênh mông bát ngát tình" . Chất thép và chất tình ấy hòa quyện làm một, tạo nên một giọng thơ không giống bất kỳ ai, một nhân cách không thể nào bị khuất phục.

image.png

Điều kỳ diệu là trong hoàn cảnh khắc nghiệt nhất, Người vẫn giữ được sự lạc quan và tình yêu thương con người đến mức kỳ lạ. Người viết về những người bạn tù, về những người phụ nữ bị giam cầm, về những đứa trẻ vô tội, về cả những con vật nhỏ bé bên đường. Tình yêu thương ấy không phân biệt giai cấp, dân tộc, không bị giới hạn bởi bất kỳ biên giới nào. Giáo sư Trần Văn Bính đã nhận xét rằng "Nhật ký trong tù" là "một hồn thơ trong một nhân cách văn hóa", một con người biết "hòa mình vào vũ trụ, vào thân phận những kẻ bất hạnh, những người bị vùi dập trong xã hội bất công, và tự nguyện làm người bạn muôn đời của thế giới đau thương" . Phải chăng chính vì thế mà tập thơ ấy, dù viết trong tù, lại là một trong những tác phẩm tự do nhất của văn học Việt Nam? Bởi vì tự do đích thực không phải là không bị giam cầm về thể xác, mà là không để cho bất kỳ xiềng xích nào trói buộc được tư tưởng và trái tim mình.

Khi đọc "Nhật ký trong tù", ta không chỉ đọc thơ. Ta đọc một cuộc đời, một tấm gương, một lời nhắn nhủ. Giữa những bức tường đá lạnh lẽo của nhà tù Tưởng Giới Thạch, Hồ Chí Minh đã chứng minh rằng ý chí con người có thể vượt lên trên mọi hoàn cảnh. Người không chỉ chịu đựng, mà còn sáng tạo. Người không chỉ sống sót, mà còn sống đẹp. Và chính vì thế, tập thơ nhỏ bé ấy đã trở thành bảo vật quốc gia, được dịch ra nhiều thứ tiếng trên thế giới, được bạn bè quốc tế ngợi ca như một "bộ sử thi về thế giới tâm hồn và nhân cách Hồ Chí Minh" .

image.png

Hồ Chí Minh không chỉ là một nhà cách mạng, một nhà thơ. Người còn là một nhà văn hóa lớn, được UNESCO tôn vinh là "Anh hùng giải phóng dân tộc, Nhà văn hóa kiệt xuất của Việt Nam" năm 1987. Di sản của Người để lại không chỉ là một đất nước độc lập, tự do, mà còn là một hệ thống tư tưởng về đạo đức cách mạng, về xây dựng Đảng, về nhà nước của dân, do dân, vì dân. Người đã từng nói: "Nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì" . Câu nói ấy, giản dị mà thấm thía, đã trở thành kim chỉ nam cho mọi chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước ta suốt bao nhiêu năm qua. Độc lập không phải là một khẩu hiệu, mà là cơm ăn, áo mặc, là hạnh phúc của từng người dân. Đó là tư tưởng lớn của một con người vĩ đại, nhưng lại được diễn đạt bằng ngôn từ của một người cha già dân tộc, gần gũi và ấm áp biết bao.

Hành trình từ Nguyễn Tất Thành đến Nguyễn Ái Quốc, rồi đến Hồ Chí Minh, là hành trình của một con người đi tìm hình của Nước. Nhưng đó cũng là hành trình của cả một dân tộc đi từ đêm tối của nô lệ đến ánh sáng của tự do. Mỗi tác phẩm của Người, dù là một bản cáo trạng sắc lạnh hay một vần thơ trong ngục tối, đều là những mảnh ghép của một bức chân dung lớn lao: chân dung của một con người đã dâng hiến trọn vẹn cuộc đời mình cho Tổ quốc và nhân dân. Học tập và làm theo tấm gương Hồ Chí Minh không phải là học những điều cao siêu, xa vời. Đó là học ở Người lòng yêu nước thiết tha, ý chí vượt qua mọi khó khăn, và trên hết, là tình yêu thương con người bao la. Bởi vì suy cho cùng, một con người vĩ đại không phải là người đứng trên cao nhìn xuống, mà là người biết cúi xuống để nâng niu những mảnh đời bất hạnh, và biết ngẩng đầu để tin vào một ngày mai tươi sáng hơn cho tất cả mọi người.

image.png

·         Đoàn trường THPT BÀ RỊA

·         TRẦN THỊ PHƯƠNG THẢO

·         Đơn vị :CHI ĐOÀN LỚP 11A5

·         Sđt :0786643472

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn