Khác

Từ nhà từ đến nhà ngục Sơn La Phần 2: THỰC THI CHẾ ĐỘ LAO TÙ HÀ KHẮC

Từ nhà từ đến nhà ngục Sơn La Phần 2: THỰC THI CHẾ ĐỘ LAO TÙ HÀ KHẮC

Phú Thọ29/03/2026Đoàn xã Tân Lạc (Đoàn xã Tân Lạc)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

2 .THỰC THI CHẾ ĐỘ LAO TÙ HÀ KHẮC

Với dã tâm một thời gian không lâu, sốt rét, bệnh tật và công việc khổ sai sẽ tiêu hao chúng một cách êm thấm, thực dân Pháp đã thực hiện ở nhà ngục Sơn La một chế độ tù đày hết sức khắc nghiệt về ăn, ở và công việc khổ sai hàng ngày.

Chế độ ăn uống của tù nhân do Thống sứ Bắc Kỳ quy định đã rất ngặt nghèo, lại còn bị bọn giám ngục tìm cách bớt xén. Bữa ăn mỗi người được một nắm cơm nếp lẫn trấu và sạn với muối trắng, hoạ hoằn mới có bữa canh rau già nấu suông. Ngày tết, ngày lễ, mỗi người được vài miếng thịt lợn luộc chấm với muối, không có bát đũa, phạm nhân phải ăn bốc. Đến nước lã cũng rất hạn chế. Mỗi buổi sáng mỗi người chỉ được phát 1 bơ sữa bò nước lã vừa để uống, vừa để rửa.

Mỗi một năm phạm nhân được phát 1 bộ quần áo bằng vải thô, 1 chiếc chiếu, 1 chăn sợi mỏng không đủ chống chọi với cái lạnh giá của miền rừng núi. Nơi giam cầm thì ngày nóng như thiêu đốt, đêm lạnh đến thấu xương[5].

Hàng ngày khi xương mù còn bao phủ dày đặc, tiếng kèn đã giục giã phạm nhân xếp hàng điểm danh để đi làm. Đi chậm, đi nhanh, hay nói chuyện đều bị đánh đập. Những người ốm yếu vẫn phải đi làm những công việc như đục lỗ đặt mìn phá đá, chặt và kéo gỗ, đẩy xe chở đá, gỗ, cát, nước, gạo, củi… Những đợt đi chở gỗ ở Mai Sơn, chở gạo ở Tạ Bú, đường xa, đèo cao, dốc đứng, suối sâu phạm nhân phải đi ròng rã 3, 4 ngày đường. Ngoài ra, họ còn phải làm đường, nung gạch, đốt vôi. Công việc nặng nhọc thường xuyên xảy ra tai nạn, sức khoẻ giảm sút nhanh chóng, nhiều người mắc bệnh nhưng thuốc men thiếu thốn, cho nên trong những năm 1930-1936, hàng trăm chính trị phạm đã gửi thân lại khu gốc ổi[6]. Riêng năm 1933, trong 8 tháng, đã có hơn 60 người chết, trong đó có nhiều chiến sĩ ưu tú của Đảng như các ông Sáng, Tuệ, Bòm, Bò, Hiến, Tích …

Trước cảnh sống vô cùng khổ cực đó, các phạm nhân đã đề cao tình thơng yêu đồng đội giúp đỡ lẫn nhau. Đối với những người ốm đau đều được chăm sóc tận tình. Anh em đã dành những khẩu phần ăn tốt hơn để đồng đội bồi dưỡng, thay phiên nhau đấm bóp, lấy tay làm gối, nhường chỗ nằm nơi có không khí, cởi áo làm chăn đắp cho bạn lúc bị sốt. Công việc khổ sai hàng ngày, việc nhẹ dành cho người yếu, việc nặng những còn tương đối khoẻ gánh vác. Nhờ tình thương yêu đùm bọc, đoàn kết đấu tranh, không phân biệt đảng phái, động viên an ủi lẫn nhau, các chính trị phạm đã vượt qua những ngày đầy gian khổ mà “thần chết” luôn luôn bám sát bên người.

Để thực hiện dã tâm nham hiểm giết dần những người cách mạng, ngoài chế độ tù đầy khắc nghiệt để hành hạ, làm cho thân thể người tù tàn phế, bọn cầm quyền Pháp còn cử lên Sơn La những tên Công sứ khét tiếng hung ác: Công sứ Saint Poulof. Trong thư gửi cho Thống sứ Bắc Kỳ năm 1932, Công sứ Saint Poulof đã nói rằng: “Xin ngài cứ tiếp tục gửi chính trị phạm lên Sơn La. Bọn này nếu ở Hoả Lò, là những hạng hung hăng khó trị, thì rồi đây tới đất Sơn La chỉ trong vòng 6 tháng thôi vi trùng sốt rét sẽ làm cho chúng suy nhược và trở nên hiền hoà- Chúng sẽ tự định đoạt lấy cuộc sống của chúng”. Bên cạnh những tên thực dân cáo già nham hiểm như Saint Poulof cousseau, ở ngục Sơn La còn nhiều tên tay sai gian ác như chánh xếp Gabori, tên lính Xoaxăngken (số 75), tên đội nhất Sedơnong (số 1111) luôn luôn đánh đập tù nhân bất kể lúc nào.

Đoàn tù chính trị đầu tiên bị đầy lên ngục Sơn La vào cuối năm 1930 gồm 24 người. Thành phần của đoàn tù khá phức tạp: Có tù cộng sản, tù Quốc dân đảng và một số tù thường phạm.

Đoàn tù này từ Hoả Lò, lên xe lửa đi Yên Bái, từ Yên Bái đi bộ qua Nghĩa Lộ đến Tú Lệ, Ngọc Chiến, Tạ Bú vào Sơn La. Trên con đường dài điệp trùng đó họ phải vượt qua bao nhiêu đèo cao, dốc đứng vô cùng gian lao vất vả.

Đoàn thứ hai bị đày lên ngục Sơn La vào mùa thu năm 1931, gồm có 40 người. Từ Hoả Lò các chính trị phạm bị dồn lên ô tô bịt kín đưa đến bến Ngọc, Hòa Bình, sau đó đi thuyền lên Suối Rút, cứ 10 người đi một thuyền, 2 người chung 1 xích. Từ Suối Rút, tù nhân phải đi bộ dọc đường 41 đến Sơn La. Ngay khi ở Hỏa Lò, các chính trị phạm đã chuẩn bị sẵn sàng truyền đơn giấu trong người để rải trên đường đi. Mặc dầu đi đường vất vả lại bị bọn lính áp tải đánh đập dã man, mọi người vẫn hát những bài ca cách mạng và hò la. Sau 10 ngày gian nan vất vả, đoàn tù mới tới Sơn La.

Cuối năm 1931, đoàn tù chính trị thứ ba gồm có 50 người bị kết án khổ sai 5 năm đày lên Sơn La.

Đầu năm 1932, nhân cái chết của anh Sáng, lần đầu tiên các chính trị phạm tổ chức lễ truy điệu long trọng, gây tác động mạnh mẽ đến tinh thần của phạm nhân, góp phần thúc đẩy phong trào đấu tranh lên một bước, khiến cho binh lính cũng phải bớt đánh đập tù chính trị. Một số phạm nhân cộng sản đã tranh thủ tuyên truyền và tranh thủ được anh em y tá nhà thương để khi có thuốc họ ưu tiên cho người đau ốm.

Tất cả những hình thức tổ chức đơn giảm trên là mầm mống của một tổ chức hoàn chỉnh sau này.

Sau 10 năm được đào tạo tại Pháp, ngày 16/8/1932, Bảo Đại rời nước Pháp về nước. Ngày 10/9/1932, Bảo Đại ra Đạo dụ số 1, tuyên bố chấp chính và khẳng định chế độ quân chủ của Nam triều, tiến hành một số cải cách về quan trường, giáo dục, hành chính, đề ra mấy biện pháp khoan hồng đối với tù nhân người bản xứ bị giam giữ trong các lao tù, trong đó có nhà tù Sơn La.

Tháng 11/1932, danh sách 133 phạm nhân đang bị giam giữ trên đồi Khau Cả được đưa vào diện khoan hồng tuỳ theo mức độ nguy hiểm và thời gian thi hành án, bao gồm:

– 65 người phóng thích có điều kiện: Quàng Văn An, Ngô Văn Ngụ, Nguyễn Văn Rược, Đào Đình Mẫn, Nguyễn Sĩ Phụng (Đạt), Phạm Ngọc Rủ (Xuyên), Đỗ Ngọc Chấn, Đặng Văn Tu (Thanh), Phạm Thịnh, Trần Văn Quang, Trần Văn Thìn, Nguyễn Như Chấp, Đàm Văn Hoà, Đỗ Đức Hoạt, Phạm Đình Nhu, Tạ Văn Đang, Chu Đình Vọng, Nguyễn Văn Kiêm, Đông Phi, Vũ Năng Sung, Hoàng Văn Pho, Nguyễn Văn Thiết, Nguyễn Khánh Phú, Nguyễn Lạc, Vũ Văn Phong, Nguyễn Văn Thấu, Vũ Huy Huệ, Bùi Văn Tâm, Phạm Văn Minh, Nguyễn Văn Ry, Đặng Văn Lữ, Hoàng Văn Viên, Đỗ Duy Đoá, Nguyễn Văn Thâm, Nguyễn Văn Phiên, Đỗ Gia Phú, Đỗ Văn Chuẩn, Trần Hiển, Lê Duệ (Tuệ), Lê Danh Triều, Bùi Văn Giám, Phạm Văn Bang, Nguyễn ý, Trịnh Ngọc Lâm, Trần Ngọc Đông, Nguyễn Đức Chất, Trần Đức Quý, Nguyễn Văn Nhân, Quàng Văn Nhăng, Lò Văn Ngoi, Bùi Chính Tâm, Phạm Xuân Xá, Nguyễn Khắc Kính, Nguyễn Tam Đa, Vũ Sang (Phiến), Phạm Văn Trung, Lê Văn Mu, Quàng Văn Phăng, Lò Văn Trung, Dương Văn Quảng, Lê Văn Hoan, Lê Văn Hiển, Lò Văn Chiến, Lò Văn Trai.

– 69 người giảm thời hạn tù: Lê Phiên (Tiêu), Vũ Như, Trần Thiên, Phan Trung, Bùi Kiên, Tô Sĩ (Bát Sĩ), Ngô Lang (Cần), Lương Đống, Phương Hữu Hân, Nguyễn Văn Đăm, Nguyễn Văn Bân, Trần Lê Đệ, Lâm Văn Sinh, Dương Xuân Mai, Đặng Văn Huy, Bùi Văn Miễn, Trần Văn Thi, Hoàng Văn Năng, Doãn Chính, Đặng Trí, Phan Văn Tỉnh, Nguyễn Văn Long, Nguyễn Văn Liễn, Trần Kim Biều, Nguyễn Văn Khiết, Nguyễn Văn Thỏa, Nguyễn Dương, Trần Văn Lai, Trần Rõi (Rỹ), Phạm Hàm, Vũ Nhương (Trát), Nguyễn Xuân Hà, Nguyễn Văn Các, Nguyễn Văn Thao, Nguyễn Đạt Khôi, Trần Văn Lập, Đào Ngọc Hoà, Nguyễn Văn Dinh, Vũ Văn Lành, Trần Ngọc Biếm, Nguyễn Đức Cử, Nguyễn Văn Vạc, Đỗ Văn Đức, Phạm Văn Lợi, Bùi Danh Thắng, Nguyễn Văn Thời, Nguyễn Văn Dương, Nghiêm Đình Mẫn, Trịnh Văn Đức, Nguyễn Văn Lữ, Nguyễn Văn Vinh, Phạm Văn Kỳ, Phạm Đình Khôi (Lân), Mai Dưỡng (Hoà), Nguyễn Viết Tiệp, Trần Quang Thụy, Nguyễn Văn Quản, Nguyễn Hữu Đỗ, Trương Văn San, Nguyễn Văn Thịnh, Vũ Văn Nhượng, Phạm Ngọc Hoà (Giao), Nguyễn Đình Mai, Ngô Quang Châu, Phạm Ngọc Phổng, Vũ Văn Độ, Nguyễn Đình Ngọc, Nguyễn Văn Vĩ .

Số phạm nhân được ân xá kể trên chiếm gần nửa số người đang bị giam giữ ở nhà tù Sơn La. Tuy nhiên, sự kiện trên chỉ là chiêu bài mỵ dân, vì vào tháng 2/1933, lại có đoàn tù thứ tư gồm 210 người, đông nhất từ trước đến thời điểm này bị đày lên Sơn La. Trong đoàn có các Trung ương Uỷ viên, Xứ uỷ viên, Tỉnh uỷ viên và cán bộ của các cấp uỷ như các ông Trịnh Đình Cửu, Trần Văn Lan, Đỗ Ngọc Du, Khuất Duy Tiến, Trường Chinh, Lê Duẩn mà bọn thực dân Pháp đã xếp vào “những phần tử nguy hiểm”. Những tù nhân này đã bị dồn lên ô tô bịt kín, chở đến bến Cầu Đất rồi bị dồn tất cả xuống 2 chiếc tàu của hãng Bạch Thái Bưởi, được chia ra làm 4 toán, mỗi toán trên 50 người, cứ 10 người xâu chung một dây lõi luồn qua xích tay (2 người 1 xích). Trước khi rời Hỏa Lò, những người tù cộng sản đã chuẩn bị chu đáo về mọi mặt, đã lập hai ban trật tự và đối ngoại, để việc tổ chức đi đường được trật tự, tránh để kẻ địch đàn áp. Ông Trường Chinh nhận viết một số tài liệu huấn luyện cho tù nhân chính trị, trong đó có các cuốn như Cộng sản sơ giải, Hai chiến thuật, Phê bình và tự phê bình, Công vận, Nông vận, phân công cho một số người Thái khâu tài liệu vào mép chăn, gấu quần, gấu áo.

Áp tải đoàn tù này là viên quan ba Môghe, 4 viên quan một và 200 lính. Đề phòng tù trốn khi xuống tàu, chúng cho xích chân tù thành từng chuỗi, tuy nhiên khi anh em đấu tranh đòi mở xích chân, tên Môghe đã phải nhượng bộ. Từ Chợ Bờ đến Sơn La, chúng bắt anh em phải đi bộ. Cuộc hành trình đầy gian lao, khổ ải trên chặng đường quanh co, khúc khuỷu, đèo cao dốc đứng, đất đá gồ ghề, sức khoẻ của tù nhân giảm đi nhanh chóng, nhiều anh em không còn đủ sức để chống đỡ. Trước tình hình đó, các thành viên trong ban đối ngoại đã bàn với anh em đấu tranh với Môghe, đòi giải quyết một số yêu sách:

– Đi 2 ngày phải cho nghỉ 1 ngày.

– Mỗi ngày chỉ đi từ 15 đến 20 km, đi đêm và đi sớm, trưa phải được nghỉ lâu hơn.

– Bỏ dây thừng, người ốm được đi tự do không phải xích chân tay.

– Phải có thuốc xoa bóp và thuốc chữa bệnh cho những người ốm.

Thấy tù nhân kiên quyết đấu tranh, lại được một số binh lính giác ngộ ủng hộ, nên Môghe đã buộc phải chấp thuận những yêu sách nói trên.

Trên đường đi và những nơi nghỉ lại như ở thị trấn Suối Rút, Mộc Châu một số bà con đã mang đến cho anh em quà bánh. Sự chăm sóc ấy đã khích lệ thêm nghị lực cho cuộc đấu tranh của tù chính trị.

Sau 13 ngày đi đường, đoàn tù thứ tư đã tới Sơn La. Ngay hôm sau Saint Poulof cùng Giám binh đã đến nơi giam giữ đe doạ: “Ở Hà Nội các anh đấu tranh chống Chính phủ, lên đây, các anh chẳng đấu tranh được với chúng tôi đâu. Vì chỉ vài ngày nữa, các anh sẽ phải đấu tranh với vi trùng sốt rét”.

Để ngăn chặn tù nhân có thể liên lạc với nhau, chúng đã phân tán và cùm chặt họ trong các buồng giam. Những anh em được liệt vào loại tù nguy hiểm nhất càng bị theo dõi, giam cầm chặt chẽ hơn. Khí hậu và chế độ tù đày khắc nghiệt và bệnh tật hiểm nghèo đã cướp đi nhiều cán bộ ưu tú của Đảng, như các ông Trần Văn Lan, Phạm Văn Ngọ.

Tin tù chính trị ở Sơn La bị chết nhiều bay về Hà Nội và nhiều địa phương trong cả nước, tạo nên một làn sóng công phẫn trong quần chúng nhân dân và trong các gia đình tù nhân. Đây cũng là thời điểm phong trào đấu tranh của nhân dân tiến bộ Pháp lên rất cao. Chính phủ của Đảng Xã hội cấp tiến lên cầm quyền ở Pháp, đã phải cử một Phái đoàn do Râynô làm trưởng đoàn sang kinh lý Đông Dương. Trong đoàn có bà Ăngđrê Viôlitx là nhà báo tiến bộ. Trong thời gian ở Việt Nam bà đã được cung cấp nhiều tài liệu sống, được tai nghe, mắt thấy những tội ác dã man của đế quốc Pháp. Khi về nước, bà đã viết cuốn Đông Dương kêu cứu, lưu hành cả trong và ngoài nước Pháp, đã gây ra một làn sóng căm phẫn với tội ác dã man của đế quốc Pháp ở Đông Dương. Căn cứ vào tố cáo của bà, Hội quốc tế cứu tế đã liên tiếp gửi thư đòi Chính phủ Pháp phải ân xá tù chính trị ở Đông Dương và các thuộc địa khác.

Trước làn sóng công phẫn, phản đối của nhân dân trong nước và ngoài nước, tháng 10/1933, Toàn quyền Đông Dương Pasquié đã đi kinh lý Sơn La, cùng đi có Thống sứ Bắc Kỳ Pages. Công sứ Saint Poulof và bọn tay sai quan lại địa phương đã chuẩn bị đón Pasquié ngay tại ngục Sơn La.

Biết được tin đó, tù chính trị đã chuẩn bị tổ chức đấu tranh, cử đại diện đưa yêu sách cho Saint Poulof với các vấn đề như sau:

– Phải chuyển tù chính trị về xuôi.

– Phải được ăn gạo tẻ, không ăn gạo nếp.

– Phải được nhận tiền, bưu kiện, quà cáp và thuốc men của gia đình hoặc thân nhân gửi đến.

– Thả những người bị bắt và bị tù oan.

– Không được đánh đập và bắt tù làm việc nặng nhọc.

Anh em còn tố cáo chế độ tù đày dã man, đã làm cho nhiều người chết, những người còn lại trong tù là những người ốm yếu, bệnh tật. Thái độ kiên quyết của tù nhân đã buộc Saint Poulof phải nhận bản yêu sách và hứa sẽ nghiên cứu để giải quyết. Thắng lợi bước đầu này đã củng cố thêm niềm tin ở mọi người. Một số tù chính trị được đưa bằng thuyền hoặc đi bộ về lại Hỏa Lò (Hà Nội).

Tháng 10/1934, đoàn tù thứ năm gồm 62 người lại được đưa lên ngục thất Sơn La. Tiếp theo đó, vào tháng 5/1935 chúng lại đưa tiếp đoàn tù thứ sáu gồm 50 người đến nhà tù này. Trong đoàn có các ông Nguyễn Lương Bằng, Đặng Việt Châu, Phạm Quang Lịch. Có nhiều người bị đày lên Sơn La lần thứ hai như các ông Trường Chinh, Bùi Vũ Trụ, Hoàng Đình Dong.

Lúc bấy giờ thành phần tù chính trị không thuần nhất. Bên cạnh số đông là tù cộng sản và cảm tình của đảng, còn có tù quốc dân đảng và tù thường phạm. Nhưng do sự tuyên truyền, thuyết phục của những người cộng sản, dần dần anh em tù quốc dân đảng đã thống nhất với những chủ trương do anh em tù cộng sản đề ra. Để lãnh đạo mọi người đoàn kết đấu tranh với chế độ tù đầy dã man, các ông Nguyễn Lương Bằng, Trường Chinh đã bí mật tập hợp những tù nhân cộng sản từ nhà tù Hỏa Lò bị đày lên ngục Sơn La thực hiện chủ trương: Thăm dò và lôi kéo tù quốc dân đảng; cùng nhau đoàn kết để tổ chức đời sống và gác bỏ những thành kiến về đảng phái; lập ra một uỷ ban để chỉ đạo sinh hoạt trong ngục từ giữ trật tự vệ sinh chung trong trại và ngoài trại đến đối phó với gác ngục và cai, lính cũng như giao dịch với nhân dân địa phương, chăm sóc giúp đỡ lẫn nhau khi ốm đau… Một uỷ ban thống nhất tù chính trị gọi là Hội đồng Thống nhất được thành lập gồm có 5 người, 2 chủ tịch, 2 uỷ viên và 1 tổng thư Hội đồng đã thành lập các ban và chỉ định người phụ trách các ban trật tự trong, ban trật tự ngoài, ban nhà bếp, ban hợp tác xã, tổ nhà thuốc. Các ban, tổ hoạt động theo quyền hạn trách nhiệm do Hội đồng Thống nhất nhà tù quy định và được tự chủ trong hoạt động của mình, nhưng không hoạt động công khai, không ra sách báo như ở Hỏa Lò.

Trong điều kiện hết sức khó khăn, bị khống chế về mọi mặt, Hội đồng Thống nhất đã đề ra những quy định đối với tù nhân:

Về sinh hoạt trong trại:

  1. Không được cãi nhau to tiếng, phát khùng, văng tục. Ai vi phạm, anh em nhắc nhở, nếu phải đến ban trật tự can thiệp mà không nghe thì phạt 1 ngày quét nhà.

2, Không được lăng nhục nhau, đánh nhau, chửi nhau. Ai vi phạm thì ban trật tự phạt từ 1 đến 3 ngày quét nhà.

  1. Không được vứt rác (giấy vụn, vỏ hoa quả, lá bánh) hay nhổ xuống nền nhà, lối đi. Ai vi phạm thì phạt từ 1 đến 3 ngày quét nhà hay giặt quần áo cho anh em ốm.

  • Quá 9 giờ tối không được làm ồn như nói to, đánh đàn… (trừ tập thể diễn kịch). Ai vi phạm quy định, trưởng ban trật tự sẽ cảnh cáo, không sửa chữa thì sẽ phạt 1 ngày quét nhà hoặc phục vụ anh em ốm.

  • Rửa mặt buổi sáng hay rửa chân buổi tối chỉ được 3 bơ nước, tắm thì tranh thủ khi đi làm, nếu tắm ở nhà thì chỉ được nửa thùng. Nước dùng cho trật tự phát, hay tự đi lấy đều phải thực hiện đúng quy định.

  • Suất ăn chia cho từng mâm, hoặc cho từng người; trường hợp đi làm về muộn sẽ do nhà bếp chia. Anh em làm bếp có nhiệm vụ làm tốt món ăn và cố gắng thay đổi món ăn cho anh em. Làm bếp được hưởng mức ăn gấp 2 lần anh em khác. Ai vi phạm quy định thì bị phê bình và cử người khác làm thay. Để đỡ khó nhọc cho anh em làm bếp, chủ nhật trật tự cắt phiên anh em làm thay.

  • Về đi làm ở ngoài

    1. Nếu vi phạm điều 1, điều 2 trong khi đi làm thì bị phạt nặng hơn, do Hội đồng Thống nhất quyết định.

    8 . Không được mua rẻ bán đắt, không tranh nhau mua những thứ do đồng bào địa phương bán; phải theo giá bình thường mà mua. Nếu trả cùng giá mà đến người thứ 2 hay thứ 3 đồng bào mới bán thì hàng mua được chia đều cho nhau, nhường cho người ốm.

    1. Không được trêu ghẹo phụ nữ, lợi dụng, xin xỏ hay lấy cắp của đồng bào. Ai vi phạm thì bị cảnh cáo, phạt từ 1 đến 3 ngày quét nhà hoặc phục vụ anh em ốm. Trường hợp nặng hơn do Hội đồng Thống nhất xem xét.

  • Đi làm phải theo đúng mức sếp ngục giao mà đã được anh em chấp nhận như khiêng nước 7 chuyến (tù thường phạm 9 chuyến), xe gạch v.v… Nếu sốt trong khi làm không bảo đảm được mức, phải nói với trật tự trưởng.

  • Khai bệnh và xin thuốc

    1. Có bệnh mới được khai và xin thuốc, ốm thật thì tổ y tế can thiệp với xếp ngục cho ở nhà. Bệnh thường như sốt nhẹ, cảm, ho, ghẻ lở thì tổ y tế cho thuốc. Bệnh nặng thì tổ y tế đề nghị y sĩ vào khám và cho thuốc.

    Thái độ với sếp ngục, giám thị, lính coi và thầy thuốc

    1. Lễ độ lịch thiệp, nhưng không qụy luỵ. Không được tâng bốc họ để bị coi thường mình, như gọi sếp ngục hay thầy thuốc là “quan”. Nếu có việc phải trình bày với sếp ngục, giám binh khi đi làm thì nhờ trật tự trưởng hay anh em biết tiếng Pháp nói giúp.

    Đây là những điều chủ yếu trong sinh hoạt; còn về phần hợp tác xã sản xuất, có những quy định cụ thể hơn. Những quy định nói trên phù hợp với điều kiện của những người tù bị giam cầm, mọi người có thể đồng tình và chấp nhận được.

    Do đã trải qua nhiều nhà tù của đế quốc, nên những người khi bị đày lên Sơn La đã rút được nhiều kinh nghiệm trong việc tổ chức đấu tranh trong nhà tù và trên đường đi. Muốn đấu tranh thắng lợi trong hoàn cảnh bị giam cầm thì phải tìm được lý lẽ, phải đề ra những yêu sách đúng mức, vừa tầm mà bọn thống trị có thể chấp nhận như mùa hè nằm trên nền xi măng dưới mái tôn nóng như thiêu như đốt, nhất là những khi có gió Lào thổi tới, tù nhân chỉ yêu cầu nhà ngục làm trần để giảm sức nóng.

    Những yêu cầu bước đầu đã được giải quyết, mọi người tiếp tục đưa những yêu cầu tiếp như cần phải đóng xe bò chở nước để giảm sức của anh em, phải thả ông Nguyễn Lương Bằng và các người khác đang bị giam dưới hầm tối nếu không mọi người sẽ tuyệt thực.

    Rút kinh nghiệm các đoàn tù trước lên Sơn La, dưới sự chỉ đạo bí mật của các ông Trường Chinh và Nguyễn Lương Bằng, anh em tù đấu tranh kiên quyết để nắm được nhà bếp, nhà thuốc và sản xuất hàng thủ công vì có nắm được những khâu quan trọng này mới có điều kiện huy động mọi người vào cuộc đấu tranh chống lại chế độ tù đày hà khắc.

    Để chuẩn bị về mặt lý luận, ông Trường Chinh đã viết cuốn Chống chủ nghĩa cải lương và mở các lớp học lý luận, góp phần nâng cao trình độ cho tù chính trị. Nhiều lớp huấn luyện ngắn ngày cho những người bị án nhẹ và những lớp văn hoá, học ngoại ngữ cũng được tổ chức. Ngoài chương trình học tập, ban huấn luyện còn nói chuyện về ngày thành lập Đảng, Công xã Pari, ngày Quốc tế Lao động, Cách mạng tháng Mười Nga, Xô viết Nghệ Tĩnh, Công xã Quảng Châu …

    Để góp phần cải thiện đời sống và lập quỹ cứu tế phục vụ những lúc ốm đau, Hội đồng Thống nhất đã chủ trương thành lập Tổ sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Tiếp xúc với binh lính, viên chức và nhân dân phố Chiềng Lề, mọi người nhận thấy đây là một thị trường tiêu thụ những mặt hàng cần thiết trong đời sống hàng ngày như rổ, rá, đũa, chổi, thìa, nồi, xoong; những đồ trang sức như nhẫn, vòng đeo tay, dây chuyền hay đồ trang trí như hoa giấy. Nguyên liệu để sản xuất những mặt hàng này lại dễ kiếm và có những thứ đã tự có. Đồ trang sức được chế tạo từ những chiếc gáo dừa được đồng bào các dân tộc ưa chuộng. Tổ sản xuất và tiêu thụ sản phẩm trong tù đã góp phần lớn vào việc cải thiện đời sống cho anh em trong tù nhờ những quy định chặt chẽ đối với người sản xuất như ai tìm đươc nguyên liệu để đan rổ, rá thì được hưởng 10% giá trị sản phẩm bán ra, người sản xuất được hưởng từ 45 đến 50%; người cung cấp gáo dừa đã cắt theo kích thước để làm nhẫn, vòng tay, dây chuyền, thìa múc canh thì được hưởng từ 15 đến 20%, người sản xuất được hưởng từ 50 đến 60%; công may một chiếc quần hoặc áo được hưởng từ 75 đến 80% (may bằng kim khâu tay). Hoa giấy thì trừ giá mua nguyên liệu người sản xuất được hưởng 50%. Người tiêu thụ sản phẩm được hưởng 10%.

    Sự ra đời của tổ sản xuất và tiêu thụ sản phẩm ngay trong nhà ngục và những quy định của nó chứng tỏ rằng anh em trong tù đã vượt qua một phần sự rằng buộc của chế độ tù đày khắc nghiệt, chăm lo sức khoẻ để chuẩn bị cho những cuộc chiến đấu mới sắp tới.

    Cuộc sống đày ải cũng đã tạo thêm tình thương yêu đồng đội sâu sắc, đùm bọc lẫn nhau của những tù chính trị. Những người ốm được đồng đội chăm sóc chu đáo, thay phiên nhau lấy cơm, nước, giặt quần áo. Ngoài khẩu phần ăn và thuốc do nhà thuốc phát, người ốm còn được tăng thêm khẩu phần ăn, thuốc uống hay bồi dưỡng sau khi ốm được chi bằng số tiền của quỹ phúc lợi chung. Mọi người còn thay phiên nhau đấm bóp cho người bệnh, an ủi động viên lẫn nhau để vượt qua những cơn bệnh hiểm nghèo.

    Cuộc sống lao tù giữa vùng rừng núi hoang vu này đã tạo ra một nét sinh hoạt văn hoá độc đáo. Chiều thứ bảy nào cũng có hoà nhạc. Những cây đàn tứ, đàn tranh, đàn nhị, đàn hồ được sắm bằng tiền lao động. Những điệu hát quen thuộc như lưu thủy, hành vân, vọng cổ hoài lang, tứ đại cảnh, khổng minh toạ lầu. Những làn điệu ca trù, chầu văn hay những bài hát mới do ông Nguyễn Lương Bằng sáng tác, được sử dụng rộng rãi trong nhà tù. Mọi người còn viết kịch rồi tổ chức dàn dựng và biểu diễn ngay trong ngục với nội dung phong phú, đầy tính chiến đấu, được nhiều người ưa thích như vở Hai làn sóng ngược, Nghĩa phụ hoàn duyên hoặc được chuyển thể từ cuốn tiểu thuyết Lơ Ximăng của Liên Xô. Nói chung, đề tài thường nhằm vào nội dung chống ngoại xâm trong lịch sử để giáo dục và khêu gợi lòng yêu nước, thương nòi. Tuy những điều kiện để vở diễn trong nhà ngục không đầy đủ, nhưng nhờ tính giáo dục và giá trị tư tưởng và sự mến mộ của người xem nên những đêm biểu diễn đã gặt hái thành công, lôi cuốn cả công chức, lính canh, lính ở các đồn chung quanh cũng đến xem. Đây là một dịp tốt để tuyên truyền, giáo dục, gây ảnh hưởng ngày càng rộng lớn trong quần chúng, binh lính và công chức.

    Những sự kiện chính trị xảy ra ở Pháp đã cổ vũ mạnh mẽ và đưa sự nghiệp cách mạng của nhân dân ba nước ở Đông Dương đứng trước một tình thế thuận lợi mới. Mùa hè năm 1936, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương họp chủ trương thành lập Mặt trận nhân dân phản đế Đông Dương; xuất bản nhiều tờ báo hợp pháp như tờ Tin tức, Đời nay, để tạo ra lợi khí trong cuộc đấu tranh trực diện với bọn thống trị đòi quyền tự do dân chủ, đòi ân xá tù chính trị, góp phần cùng với làn sóng đấu tranh của nhân dân các nước thuộc địa và dư luận tiến bộ ở chính quốc đã buộc đế quốc Pháp phải nhân nhượng từng bước. ở Đông Dương, hàng nghìn tù chính trị từ ngục thất Sơn La đã thoát khỏi nhà tù đế quốc. Nhiều cán bộ của Đảng được trả lại tự do. Tháng 7/1936, 35 tù chính trị đã được đưa về Hà Nội. Tháng 11/1937, chúng đưa tiếp đoàn tù chính trị thứ hai gồm 60 người cũng từ Sơn La về Hà Nội.

    Các ông Nguyễn Lương Bằng, Phạm Quang Lịch1 và một số tù quốc dân đảng như Trần Văn Quang, Nguyễn Văn Ngọt, Mai Đắc Bân bị kết án khổ sai 20 năm không được trả tự do, tiếp tục bị giam tại ngục Sơn La. Ban cứu tế xã hội đã chia quỹ cứu trợ cho những người được trả tự do, nhưng họ chỉ nhận một phần nhỏ để đi đường, còn dành cho người ở lại.

    Chiến tranh thế giới lần thứ II bùng nổ. ở Đông Dương, đế quốc Pháp quay trở lại bộ mặt đàn áp dã man phong trào cách mạng, ban bố lệnh động viên, bắt người cướp của để cung cấp cho chiến tranh và ngăn chặn mọi sự phản kháng. Tháng 12/1939, đoàn tù chính trị thứ bảy, gồm 30 người bị đày lên Sơn La, trong đó có các ông Trần Huy Liệu, Xuân Thuỷ, Nguyễn Văn Phúc, Trần Đức Thịnh, Trần Đức Sắc.

    Trong 9 năm (1930-1939) đế quốc Pháp đã đày 7 đoàn tù chính trị gồm 406 người lên ngục Sơn La. Khoảng 4 năm đầu (1930-1934) trong nội bộ tù nhân có nhiều thành phần phức tạp, chưa tổ chức được chi bộ, đời sống vật chất thiếu thốn, khổ sở, mỗi người một hướng, tinh thần bi quan, bệnh tật làm chết hàng loạt người. Cuối năm 1934 mới bắt đầu tổ chức nhau lại, đời sống được tổ chức tốt hơn, học tập cũng bắt đầu vào nề nếp, bước đầu được cải thiện mọi mặt trong sinh hoạt nhà tù. Các chiến sĩ cộng sản với ý thức tự giác cách mạng đã bí mật liên hệ với nhau để chỉ đạo mọi hoạt động trong và ngoài nhà tù. Hội đồng Thống nhất và các ban trong nhà tù đã làm việc với tinh thần cách mạng triệt để, với ý chí tiến công liên tục vào kẻ thù, khiến cho cuộc sống của những người tù chính trị trong những tháng năm ở Sơn La không hề uổng phí, dù cho quân thù tìm mọi cách, mọi cớ hành hạ thể xác, tước đoạt quyền lợi nhỏ nhoi, xiết chặt chế độ nhà lao, đẩy những người tù chính trị vào cảnh khổ ải, tăng cường độ lao động khổ sai, bớt xén khẩu phần ăn hàng ngày của họ. Tinh thần và thái độ lạc quan cách mạng của tù chính trị đã làm cho những mưu toan của chúng trong việc xây dựng ngục Sơn La bị hoàn toàn thất bại.

    III. BẤT KHUẤT, KIÊN CƯỜNG VÀ GIỮ VỮNG Ý CHÍ CỦA NGƯỜI CHIẾN SĨ CỘNG SẢN

    Từ 1940 đến 1945, nhà tù Sơn La có hai chủ ngục: Gabori và Lebon. Có bốn phó ngục: Giovannetti tức “xếp lệch”, Kipriani tức phó “lái lợn”, Sapriani “chiến sĩ bình dân Tây Ban Nha một thời” và cuối cùng là H.Rioux[7].

    Từ Hỏa Lò, để tới được ngục thất Sơn La, trước sau cũng chỉ có đường số 41 (nay là Quốc lộ 6) là con đường duy nhất từ Hà Nội lên Sơn La, ô tô chỉ đi được đến Chợ Bờ – Hoà Bình. Từ nhà tù Hỏa Lò, thực dân Pháp nhốt tù nhân vào những chiếc xe tải bịt mui kín chở tới Chợ Bờ – Hoà Bình và dồn họ xuống đây. Sau đó chúng áp giải tù nhân đi trên quãng đường 220 km trong thời gian 13 ngày đi bộ. Để áp giải tù nhân đến ngục Sơn La an toàn, thực dân Pháp đã bắt tù nhân phải đeo cùm chân, lê theo một đoạn xích dài 50 cm trong suốt 13 ngày đi đường và cùm tay, cứ tay phải tù nhân này được xích với tay trái tù nhân kia thành đôi. Cứ 10 đôi tù nhân chúng lại dùng một chão thừng xâu thành một chuỗi. Với cách áp giải như vậy, trong suốt quãng đường 220 km tới nhà tù Sơn La mọi việc ăn, ngủ, đại tiểu tiện của mỗi tù nhân đều trở nên hết sức bất tiện.

    Chặng đường gian khổ ấy cũng được Hoàng Công Khanh dựng lại như sau:

    Con đường đi đày chia thành nhiều chặng: Hà Nội – Hoà Bình – Chợ Bờ – Suối Rút – Bản Bông – Mộc Châu – Bản Tsi – Yên Châu – Cò Nòi – Mai Sơn – Hát Lót – Sơn La. Đoàn xe chỉ chở tù từ Hà Nội đến Chợ Bờ. Từ những chặng sau, tù phải cuốc bộ, đi thành hàng hai giữa lính áp giải đi hàng một cặp sát hai bên. Chỉ huy lính là một phó ngục hoặc một sĩ quan Pháp cưỡi ngựa đi trước khá xa, chỉ đến chặng nghỉ mới thoáng thấy mặt. Có đoàn tù ngoài xích, lại thêm một sợi giây chão xuyên dọc qua xích từ đầu đến cuối như xâu cá, khoảng cách mỗi hàng không qúa bốn bước chân. Địch đề phòng tù trốn dọc đường, nên cẩn tắc vô áy náy. ốm yếu bệnh tật mặc, dù có bò lê kéo càng cũng phải cố dìu nhau mà đi. Cũng lạ, trong các Convoyer chính trị từ 1940-1945, không có người nào gục ngã giữa đường. Sự sống còn và niềm hy vọng vào tương lai thúc đẩy người tù nhất quyết không chịu để thân mình làm mồi cho thú rừng, hay mục rũa làm phân bón cho cây cỏ hoang vu.

    Tù nhân qua sông Bờ bằng phà làm nhiều chuyến, nghỉ tạm dưới mái quán Chợ Bờ. Từ Suối Rút trở đi, đường quanh co, khúc khuỷu gập ghềnh lên đèo xuống dốc liên miên. Con dốc cao và dài nhất được anh em tù đặt là Đèo voi khóc phải gập người xuống leo, đầu gối chạm bụng, hơi thở lòi ra lỗ tai ù ù như gió thổi, đi suốt đêm mới hết. Khoẻ và to như voi mà còn rơi nước mắt huống chi người! Có đoạn toàn đá tai mèo, cạnh sắc lởm chởm như dao, mài mòn gót, cứa gan bàn chân rớm máu, buốt nhói thấu óc. Suýt soa, rên rỉ nhưng vẫn cứ nghiến răng mà đi. Những bước đi trói buộc nhưng cũng là những bước đi của ý chí không lùi. Mỗi cung đường dài 30 km – 40 km (trừ Chợ Bờ – Suối Rút:12 km) và đều phải đi đêm, sớm từ 10 giờ tối, muộn vào 2 giờ sáng, tinh mơ hôm sau phải tới chỗ nghỉ. Cơm nước do địa phương các nơi tù nghỉ lại cung cấp theo lệnh của các quan chức sở tại như tri châu, lang đạo, phìa, tạo (người Thái), quản, thống lý (người Mèo). Cơm đựng vào rổ rá, thúng, xảo, lót lá chuối, trên để thịt lợn, hoặc thịt trâu luộc kèm theo một dúm muối. Có khi là khô mục. Ai không mang theo được bát đũa từ Hỏa Lò thì phải dùng tay ăn bốc. Sau bữa chiều, mỗi người được phát một nắm cơm kèm thức ăn dành cho bữa sáng hôm sau. Từ Mộc Châu trở đi, cơm tẻ thay bằng cơm nếp.

    Đêm tối cũng không bịt được tai mắt người dân. Nhiều lần trên chặng đường Chợ Bờ, Suối Rút, đoàn tù đang lầm lũi cất bước, thì từ hai bên mé rừng, bỗng có những nắm cơm kèm theo thịt kho, cá mặn, muối vừng gói lá chuối, ném vào lộp độp. Đó là quà của bà con dân chúng quanh khu vực giúp giập tí chút gọi là thơm thảo. Ôi! những nắm cơm tình nghĩa, có lòng thương sót lẫn kính phục.

    Đặc biệt ở Mộc Châu, có bà Cả Thịnh, một phụ nữ nhân hậu mà không mấy đoàn tù đi đày qua đây không biết. Bà không biết phân biệt cộng sản hay quốc gia, chỉ biết đó là những người yêu nước, có gan đánh Tây, và gọi chung họ là Quốc sự phạm. Cứ mỗi lần có đoàn Quốc sự phạm đến Mộc Châu, bà lại nấu một nồi cháo lớn (thường là cháo hoa, gặp mùa là cháo đỗ xanh hoặc đỗ đen) kèm một bát “ô tô” đường cát, mang đến tận nơi ủng hộ. Giữa mênh mông sương lạnh cao nguyên, trong cơn mệt mỏi rã rời, tay nâng bát cháo nóng hổi thơm phức, nhiều người đã rưng rưng nước mắt. Bát cháo ấm nóng mến thương, đậm đà hạt muối nhân hậu, chan chứa tình người ngày ấy, cho đến nay, cho đến mai sau, vẫn cứ ngon ngọt, ngạt ngào mãi trên môi, người tù mang mãi cái kỷ niệm thắm thiết ấy trong lòng. Hình ảnh một bà mẹ tay cầm muôi cẩn thận múc từng muôi cho khỏi vương vãi phí của, đổ vào bát từng đứa con lạ mà quen, mắt chớp chớp tia vui, miệng giục: – Ăn đi! Ăn đi cho ấm bụng, các con ạ! Sao mà thân thương, ấm áp ngời ngời đến thế.

    Từ những chặng sau, đoàn tù được ngủ trên các nhà sàn. Sự mệt mỏi tăng dần từng ngày từng giờ, nên khi đến nơi, mọi người đều lăn ra ngủ, có khi không kịp cởi bỏ những thứ đeo buộc trên mình. Cây gậy chống (một cành cây hay một thân sậy bẻ vội bên đường) vừa rời khỏi tay là mắt đã nhắm lại.

    Cứ như thế, trong xích sắt và giây chão, đêm đi, ngày nghỉ, dòng dã, kiền kiệt trên hơn 300 cây số đường rừng. Càng gần đến những chặng cuối, người tù càng kiệt sức, vật vã, quằn quại, đói khát, căng thẳng. Số người ốm tăng dần. Nhưng không ai nghĩ đến trốn chạy, và càng cố tránh không để xảy ra điều gì trái với quy định, để làm mất lòng lính áp giải, và để xếp áp giải có thể vin cớ đàn áp. Tất cả chỉ chăm chăm mong sao mau tới đích, tới nhà tù Sơn La của mình”1.

    Chỉ tính riêng từ 1940-1945, đã có trên 7 đoàn convoyer từ Hỏa Lò lên Sơn La. Năm 1940 có hai đoàn; năm 1941 ba đoàn; năm 1942-1943, có những cuộc chuyển đổi nhà tù; năm 1944 một đoàn; năm 1945 một đoàn cuối cùng nữa… Trong hàng chục đoàn ấy, có nhiều đảng viên cộng sản. Qua quá trình đấu tranh ngoài xã hội và ở các nhà giam khác, họ đã đứng vững và lớn lên. Rồi đây những người ấy sẽ là những thỏi nam châm thu hút chất sắt của cuộc sống, tạo thành một từ trường cách mạng rất mạnh, không chỉ ở trong nhà tù, mà tỏa rộng ra toàn tỉnh Sơn La.

    Cá biệt, cuối năm 1943, có một convoyer bị tai nạn rủi ro dọc đường. Ô tô của đoàn từ Hà Nội lên bị đổ ở trên đường Lương Sơn (Hoà Bình). Cái đi đầu nổ lốp, cái sau lao vào đuôi, cái thứ ba húc lật nhào hai cái trước, xe lăn xuống ruộng, vật tù và lính một trận tơi bời.

    Những người cộng sản ở nhà tù nhận thức rằng với lực lượng đảng viên đông như vậy, mà không có một tổ chức thống nhất để chỉ đạo cuộc đấu tranh, tất sẽ gặp nhiều khó khăn, và tổn thất không thể lường được. Dù khó khăn đến đâu cũng phải gấp rút thành lập được chi bộ cộng sản – hạt nhân lãnh đạo của nhà tù, mới có thể giành được thắng lợi ngày càng lớn.

    Xuất phát từ yêu cầu cấp bách nói trên, vào cuối tháng 12/1939, các đảng viên trong nhà tù bí mật triệu tập hội nghị để thảo luận việc thành lập chi bộ lâm thời, gồm 10 người, và cử ông Nguyễn Lương Bằng làm bí thư chi bộ. Do yêu cầu công tác lãnh đạo ngày càng cao đối với nhà tù, tháng 2/1940, chi bộ lâm thời được chuyển thành chi bộ chính thức. Theo đề nghị của ông Tô Hiệu, chi bộ đã nhất trí cử ông Trần Huy Liệu làm bí thư chi bộ và ông Tô Hiệu làm chi uỷ viên.

    Tháng 5/1940, chi uỷ triệu tập đại hội chi bộ để thảo luận, quyết định các chủ trương công tác và bầu ông Tô Hiệu làm bí thư chi bộ. Đại hội đã đề ra 5 công tác lớn:

    – Chi bộ lãnh đạo toàn diện hoạt động của nhà tù.

    – Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục và rèn luyện đạo đức cách mạng cho đảng viên và quần chúng.

    – Đào tạo và bồi dưỡng cán bộ, huấn luyện đảng viên về lý luận Mác-Lênin và phương pháp đấu tranh cách mạng trong nhà tù.

    – Xây dựng và phát triển các tổ chức quần chúng cách mạng bên trong và bên ngoài nhà tù.

    – Tìm mọi cách bắt liên lạc với Xứ uỷ và Trung ương Đảng để xin ý kiến chỉ đạo của cấp trên đối với chi bộ nhà tù.

    Ngoài những đảng viên chính thức sinh hoạt trong chi bộ, còn có tổ chức quần chúng trung kiên – chỗ dựa tin cậy của chi bộ, đồng thời là đối tượng kết nạp đảng viên mới, đảng viên hết sức quan tâm giúp đỡ, bồi dưỡng lập trường lý tưởng, ý chí chiến đấu cho quần chúng, được quần chúng mến phục. Mỗi quần chúng trung kiên đều được chi bộ giao nhiệm vụ cụ thể để thử thách trong quá trình rèn luyện và đấu tranh.

    Dưới sự lãnh đạo của chi bộ, đại hội đại biểu tù nhân thảo luận sôi nổi, thông qua quy chế chung về tổ chức nhà tù, bầu ra các cơ quan tự quản của tù chính trị. Đại hội quyết định thành lập Uỷ ban nhà tù (còn gọi là Uỷ ban Hàng Trại) đặt dưới sự lãnh đạo của chi bộ. Đó là cơ quan cao nhất điều hành hoạt động của tù nhân giữa hai kỳ đại hội, có nhiệm vụ và quyền hạn để tổ chức, thực hiện các nghị quyết của đại hội, chỉ đạo các ban cơ sở, đồng thời làm chức năng đối ngoại. Các ban cơ sở gồm có ban trật tự trong; ban trật tự ngoài; ban kinh tế; ban cứu tế; ban tuyên truyền, ban huấn luyện; phòng y tế; ban khánh tiết; ban văn hoá; ban dân vận; ban binh vận; ban tù vận và tổ hồng thập tự (nằm trong ban cứu tế). Riêng ban binh vận trực thuộc chi uỷ, hoạt động rất bí mật. Từ năm 1942, tập thể tù chính trị Sơn La đã hoàn chỉnh về cơ cấu tổ chức của mình.

    Bên cạnh việc tổ chức các cơ quan tự quản của nhà tù, chi uỷ còn bố trí một số đảng viên và quần chúng trung kiên đi làm bồi bếp, lao công cho các quan chức Pháp ở toà sứ, để nắm tình hình, thông báo những tin tức cần thiết cho chi ủy kịp thời xử lý các tình huống cấp bách. Việc bố trí một vài đảng viên làm việc trong văn phòng nhà tù là rất có lợi cho việc sắp xếp các đảng viên đi theo các đoàn tù về Hỏa Lò, Côn Đảo, Hoà Bình, hoặc tiếp tục ở lại nhà ngục Sơn La để lãnh đạo quần chúng đấu tranh.

    Việc bắt liên lạc với Trung ương Đảng và các cơ sở Đảng ở bên ngoài nhà tù là một trong những nhiệm vụ quan trọng được chi bộ giao cho ông Tô Hiệu đảm nhiệm. Do tình hình giao thông khó khăn, từ giữa năm 1941 đến đầu năm 1942, việc bắt liên lạc giữa chi bộ với Trung ương Đảng bị gián đoạn, mặc dù chi bộ đã chú ý bố trí cho một số đảng viên mãn hạn tù đi tìm liên lạc như các ông Văn Tiến Dũng, Lê Liêm, nhưng ít có hiệu quả. Cho tới đầu năm 1942, chi bộ mới tiếp nhận được một số văn kiện của Đảng như Nghị quyết của Hội nghị Trung ương Đảng 5/1941, Điều lệ Việt Minh v.v…Cũng trong thời gian đó, ông Trần Đăng Ninh bị đầy lên Sơn La đã truyền đạt lại cho chi bộ Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về tình hình mới, nhiệm vụ mới. Nhờ các nguồn thông tin nói trên, các đảng viên trong chi bộ mới nắm được những chủ trương mới của Đảng trong giai đoạn trước mắt là tập trung lực lượng vào việc đánh Pháp, đuổi Nhật, giành độc lập, tự do cho Tổ quốc. Chi bộ nhà ngục Sơn La tự xác định là một chi bộ đặc biệt của Xứ uỷ và của Trung ương Đảng. ít lâu sau, Ban Chấp hành Trung ương công nhận chi bộ nhà ngục Sơn La là chi bộ chính thức của Trung ương Đảng. Chi bộ nhà tù Sơn La cũng được coi là chi bộ cộng sản đầu tiên ở địa bàn tỉnh Sơn La.

    Để biến Nghị quyết của đại hội (5/1940) thành hiện thực, chi bộ đã triển khai nhiều chủ trương công tác quan trọng, trong đó nổi lên là việc giáo dục, rèn luyện tinh thần cách mạng cho đảng viên và quần chúng; đấu tranh chống chế độ hà khắc của nhà tù; ổn định và cải thiện đời sống cho tù nhân; học tập để tự nâng cao trình độ chính trị, văn hoá; tăng cường công tác tuyên truyền, báo chí; cố gắng giữ gìn lực lượng để giành thắng lợi từng bước; tiến tới giải thoát toàn bộ chính trị phạm khỏi nhà tù để trở về với đội ngũ, góp phần vào sự nghiệp cách mạng.

    Khi chiến tranh thế giới lần thứ II bùng nổ, Cousseau viên mật thám lành nghề, một thực dân cáo già được điều động về Sơn La thay thế Saint Poulof. Trở thành viên quan cai trị hàng tỉnh nham hiểm, một mặt, Cousseau ra lệnh cho giám ngục, cai ngục, binh lính hành hạ người tù, mặt khác, y lại tỏ ra “nhân đạo” khiển trách bọn thủ hạ, để xoa dịu sự căm phẫn của tù nhân. Mỗi khi có cuộc đấu tranh của tù chính trị, lúc đầu thì tỏ ra nhượng bộ ít nhiều quyền lợi nhỏ nhặt, sau đó quay lại đàn áp khốc liệt hơn.

    Đến Sơn La, Cousseau đã nhanh chóng tổ chức mạng lưới chỉ điểm trong hàng ngũ binh lính, công chức để theo dõi, phát hiện và ngăn chặn những hoạt động của tù chính trị; bố trí một hệ thống mật vụ trà trộn trong hàng ngũ những người buôn bán ở phố Chiềng Lề để bí mật theo dõi những hoạt động ở bên ngoài nhà tù. Y ra sức mua chuộc số tù thân Nhật để gây hiềm khích, chia rẽ với tù cộng sản; treo giải thưởng lớn cho kẻ nào bắt được tù vượt ngục. Ngoài ra, Cousseau còn bố trí một bộ phận chuyên kiểm duyệt thư từ, bưu phẩm do thân nhân của người tù gửi tới. Bên cạnh những lời lẽ phỉnh phờ, mị dân, Cousseau còn tìm mọi biện pháp bóc lột sức lao động của tù nhân; ra lệnh cho bọn quản, đội phải đốc thúc tù nhân làm việc cật lực và tăng thêm giờ lao động hàng ngày. Để đối phó, chi bộ nhà tù đã quyết định phát động cuộc đấu tranh chống chế độ hà khắc của nhà tù đòi bảo đảm những quyền lợi hợp pháp của tù chính trị buộc chính quyền thực dân đã phải thừa nhận. Nhân việc Gabori đánh đập tù nhân một cách dã man, tự ý cấm người tù ra suối tắm giặt, không cho họ tự quản lý bếp ăn, kho thực phẩm, bớt xén trắng trợn khẩu phần của tù nhân, không cho tù nhân nói chuyện với binh lính …. Một cuộc đấu tranh đã nổ ra.

    Ngoài ra còn 2 cuộc đấu tranh quyết liệt của các chính trị phạm diễn ra vào tháng 6/1940, tháng 5/1941 kéo dài tới 12 ngày. Trần Huy Liệu – một trong những người lãnh đạo và trực tiếp tham gia cuộc đấu tranh diễn ra hồi tháng 5/1941. Mặc dầu thất bại, cuộc đấu tranh đã đi đến đỉnh chót của gian khổ và oanh liệt, và chặn đứng lại đà tiến công của địch.

    Sau cuộc đấu tranh kể trên, sức khỏe của anh em trong tù bị giảm sút nghiêm trọng, nhiều người bị kiệt sức, lúc đầu có vài người bị chết vì thiếu chất dinh dưỡng và bệnh tật hiểm nghèo.

    Trước tình hình ấy, chi bộ đã kịp thời đề ra chủ trương: phấn đấu phục hồi sức khỏe cho mọi người để có thể đủ sức tiếp tục đương đầu với kẻ thù trong thời gian tới.

    Thực hiện chủ trương của chi bộ, chi uỷ giao nhiệm vụ cho Ban kinh tế và Ban cứu tế nghiên cứu kế hoạch cụ thể. Tính đến năm 1942, quỹ kinh tế của tù chính trị lên tới 4.000 đồng tiền Đông Dương. Đó là số tiền lớn lúc bấy giờ.

    Cùng với Ban kinh tế, Ban cứu tế hoạt động cũng khá sôi nổi. Nhờ có sự đóng góp của tập thể tù chính trị, đầu năm 1943 quỹ cứu tế đã lên tới gần 1.000 đồng tiền Đông Dương. Ban cứu tế đã dùng số tiền đó mua thuốc dự trữ, đường sữa để bồi dưỡng cho người ốm yếu. Ban kinh tế còn tổ chức bán thêm thức ăn cho anh em ngoài tiêu chuẩn ăn hàng ngày để tự bồi dưỡng sức khoẻ.

    Trong các năm 1933, 1934, 1935 trung bình mỗi tháng có từ 1 đến 2 người tù chết vì bị đánh đập, bệnh tật. Từ năm 1941 đến 1944 chỉ có 7 người chết, tức là giảm xuống tới 80% con số tử vong. Đó là do kết quả của chủ trương tự cải thiện đời sống trong nhà tù ngày càng phát huy hiệu quả. Việc tăng gia sản xuất, tự cải thiện đã giúp cho chi bộ tiết kiệm được hàng ngàn đồng và nhiều loại thuốc men để gửi về cơ quan Trung ương Đảng.

    hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.

    Bạn cũng đang lưu giữ
    một câu chuyện lịch sử?

    Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

    Gửi câu chuyện của bạn
    Từ nhà từ đến nhà ngục Sơn La Phần 2: THỰC THI CHẾ ĐỘ LAO TÙ HÀ KHẮC | Câu chuyện thời hoa lửa