Từ nhà xác Hỏa Lò đến chuyến đi cuối cùng ở đồi Vô Tranh
Bị thực dân Pháp kết án năm năm tù, nhà thơ Thôi Hữu giả chết, nằm giữa các tử thi rồi chui theo đường cống ra khỏi Hỏa Lò. Sáu năm sau, người chiến sĩ cầm bút hy sinh trong một trận oanh tạc tại Thái Nguyên.
Năm 1944, trong nhà tù Hỏa Lò, một người tù chính trị trẻ tuổi nằm bất động giữa những thi thể đang chờ được đưa ra ngoài.
Lính canh tưởng người ấy đã chết.
Khi có thời cơ, ông cùng một số đồng chí rời nhà xác, lần theo đường cống để thoát khỏi nhà tù. Sau những giờ luồn qua bóng tối và nước bẩn, người tù trở lại được với phố phường Hà Nội.
Tên ông là Thôi Hữu.
Đó không phải tên khai sinh. Ông tên thật là Nguyễn Đắc Giới, hoạt động với bí danh Trần Văn Tấn và từng dùng bút danh Tân Sắc. Các tài liệu còn ghi khác nhau về năm sinh của ông, phổ biến là năm 1919; mộ chí tại Vô Tranh ghi năm 1921. Ông sinh ra tại huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa.
Thôi Hữu mồ côi mẹ từ khi vừa lọt lòng. Tuổi thơ thiếu một mái ấm trọn vẹn khiến ông phải sớm tự lập. Học xong bậc Thành chung, ông vào Huế học tại Trường Kỹ nghệ thực hành rồi làm thợ điện.
Cuộc sống của một người thợ giúp ông hiểu rõ cảnh lao động cực nhọc và sự bất bình đẳng trong xã hội thuộc địa. Ông tham gia Đoàn Thanh niên phản đế, dùng báo chí và văn chương để truyền bá tư tưởng yêu nước.
Trên tờ “Bạn đường” xuất bản tại Thanh Hóa, những bài thơ, bài báo ký tên Thôi Hữu bắt đầu được chú ý bởi giọng văn trẻ trung, sôi nổi. Bút danh ấy dần trở thành tên gọi gắn với ông cho đến cuối đời.
Năm 1943, Thôi Hữu được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Sau đó, ông được điều ra Hà Nội hoạt động bí mật giữa lúc thực dân Pháp tăng cường lùng bắt các cơ sở cách mạng.
Thôi Hữu tham gia xây dựng lực lượng Việt Minh và tự vệ tại khu vực ngoại thành phía tây Hà Nội, từ Nghĩa Đô, Bưởi đến Dịch Vọng và Cổ Nhuế. Công việc đòi hỏi ông phải thay đổi chỗ ở liên tục, gặp gỡ quần chúng trong bí mật và luôn đối diện nguy cơ bị bắt.
Năm 1944, thực dân Pháp phát hiện hoạt động của ông. Thôi Hữu bị bắt, đưa vào Hỏa Lò và kết án năm năm tù.
Trong nhà tù được canh giữ nghiêm ngặt ấy, ông đã lựa chọn một cách vượt ngục đặc biệt nguy hiểm: giả chết để được chuyển tới nhà xác. Từ nơi dành cho những người đã chết, ông chui qua đường cống, thoát ra ngoài và tìm cách nối lại liên lạc với tổ chức.
Không lâu sau, Thôi Hữu trở thành Thành ủy viên, phụ trách phong trào cách mạng ở vùng ngoại thành phía tây Hà Nội. Ông cùng đồng đội dựa vào sự che chở của nhân dân để giữ vững và phát triển các cơ sở Việt Minh cho tới Cách mạng tháng Tám năm 1945.
Khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp bùng nổ, Thôi Hữu gia nhập quân đội. Từ năm 1946, ông gắn bó ngày càng chặt chẽ với báo chí cách mạng, lần lượt công tác tại Báo Vệ Quốc quân và Báo Sự Thật.
Báo Vệ Quốc quân là một trong những tờ báo tiền thân của Báo Quân đội nhân dân. Trong những năm đầu kháng chiến, tòa soạn quy tụ nhiều nhà văn, nhà thơ như Trần Đăng, Thâm Tâm, Hoàng Lộc và Vũ Cao. Họ vừa viết báo, vừa hành quân, bám đơn vị và có mặt tại các chiến trường.
Điều kiện làm báo tại Việt Bắc vô cùng thiếu thốn. Người phóng viên phải đi bộ qua rừng, vượt suối, ngủ nhờ trong nhà dân hoặc lán quân đội. Bản thảo viết xong còn phải chuyển qua những con đường nguy hiểm mới tới được nhà in.
Thôi Hữu được đồng nghiệp nhớ đến như một người làm việc say sưa. Sau mỗi chuyến đi mặt trận, ông không chỉ mang về bài viết mà còn kể lại những điều khiến tòa soạn phải suy nghĩ: bộ đội đang thiếu gì, nhân dân đang chịu đựng ra sao và báo chí cần viết thế nào để phục vụ cuộc kháng chiến.
Năm 1948, sau một chuyến lên Cấm Sơn, vùng núi thuộc Bắc Giang, Thôi Hữu viết bài thơ “Lên Cấm Sơn”. Tác phẩm ghi lại cuộc sống thiếu thốn của người lính: có lúc hết gạo, phải hái ổi xanh ăn cho đỡ đói; đêm rét, quần áo rách, phải dùng lá che thân.
Nhưng điều nhà thơ nhìn thấy không phải sự bi quan. Giữa bản vắng và rừng núi, những người lính vẫn hát, dạy chữ cho trẻ em và giữ niềm tin vào thắng lợi. Bài thơ trở thành một trong những tác phẩm tiêu biểu viết về Bộ đội Cụ Hồ trong những năm đầu kháng chiến.
Ngày 19 tháng 5 năm 1950, tại chiến khu Việt Bắc, Thôi Hữu được gặp và bắt tay Chủ tịch Hồ Chí Minh trong một cuộc gặp các nhà báo. Bức ảnh về cuộc gặp ấy trở thành một trong số ít hình ảnh còn lại của ông.
Cuối năm 1950, Thôi Hữu tiếp tục đi công tác tại Thái Nguyên.
Ngày 16 tháng 12, khi ông tới khu vực xã Vô Tranh, huyện Phú Lương, máy bay Pháp bất ngờ oanh tạc. Người cán bộ từng thoát khỏi nhà xác Hỏa Lò sáu năm trước đã không vượt qua được trận bom ấy.
Thôi Hữu hy sinh khi mới ngoài ba mươi tuổi.
Ông được nhân dân địa phương mai táng tại Vô Tranh. Sau chiến tranh, vì thông tin về ngôi mộ không đầy đủ, nơi an nghỉ của ông có thời gian không được xác định chính xác.
Mãi đến tháng 7 năm 1992, tức 42 năm sau ngày ông hy sinh, các đồng nghiệp của Báo Nhân Dân, Báo Quân đội nhân dân, chính quyền huyện Phú Lương và gia đình mới tìm thấy, quy tập phần mộ Thôi Hữu về Nghĩa trang Liệt sĩ xã Vô Tranh.
Cuốn “Thơ văn Thôi Hữu” được xuất bản năm 1984, hơn ba mươi năm sau khi tác giả mất. Di sản của ông không đồ sộ, nhưng cuộc đời ấy nối liền nhiều hình ảnh đặc biệt: người thợ điện trở thành chiến sĩ cách mạng; người tù giả chết để trở về hoạt động; nhà thơ đi giữa các đơn vị chiến đấu và người phóng viên hy sinh trên đường công tác.
Thôi Hữu từng thoát khỏi nơi dành cho người chết để tiếp tục sống và viết. Sau cùng, ông nằm lại trên một ngọn đồi của chiến khu, giữa chính cuộc kháng chiến mà mình đã dành trọn tuổi trẻ để phụng sự.


