Từ nỗi đau mất con đến danh hiệu Bà mẹ Việt Nam Anh hùng
Má Nguyễn Thị Ba sinh năm 1910 ở xã Phú Hội, một xã anh hùng với nhiều chiến tích anh hùng của huyện Nhơn Trạch. Chồng má là ông Lê Văn Hai, người Long Tân, cách Phú Hội một cái cầu. Thuyền theo lái, gái theo chồng, cô gái Phú Hội đã về quê chồng cho đến trọn cuộc đời... Hầu như cả cuộc đời má - sinh con đẻ cái, làm lụng vất vả cực nhọc, chiến đấu gian khổ, hy sinh cũng chỉ vì hòa bình, độc lập, tự do... Thời kháng chiến chống Pháp, chồng và con trai lớn của má cùng tham gia chiến đấu. Rồi sự mất mát đầu tiên đã xảy ra: người con trai đầu lòng của má anh Lê Văn Dũng đã ngã xuống vào khoảng năm 1948-1949. Ẩn nhẫn, má tiếp tục nuôi các con kế tiếp lớn lên... Bốn người con của má trong thời kháng chiến chống Mỹ lần lượt thoát ly vào rừng làm cách mạng. Thằng Ba của má (anh Lê Văn Thanh) đi du kích xã vào thời điểm kế hoạch bình định của chế độ Ngô Đình Diệm đang triển khai (năm 1962), dân bị dồn vào ấp chiến lược. Trong một lần đi công tác, anh trúng phục kích của địch, hy sinh để lại vợ và hai con thơ dại. Nỗi đau của má là mất con nhưng không được khóc. Xác con nằm lại đâu đó ngay trong rừng Long Tân. Má chua xót vì “không vô thăm được để thắp cho nó nén nhang”. Năm 1971-1972, chiến tranh đã đến hồi leo thang ác liệt khắp các chiến trường, địa bàn Nhơn Trạch cũng là một điểm nóng của bom đạn Mỹ. Thằng Tám (Lê Văn Tiến) của má ở bộ đội 240 của tỉnh về hoạt động tại Phú Hội trong cao trào chống địch lấn đất giành dân; còn Út Mười (Lê Văn Mười), trinh sát của bộ đội huyện lại về hoạt động ngay tại địa bàn xã Long Tân. Má nghe phong thanh tin hai người con về gần thì vừa mừng vừa lo. Mừng vì có thể má sẽ được gặp con của má nay mai, nhưng lo vì lúc này bọn giặc đánh rát quá, bom đạn có chừa ai. Thế rồi cái tin không bao giờ mong chờ ấy lại đến với má: Út Mười hy sinh ngay trên mảnh đất Long Tân vào cái tuổi 16. Vẫn biết con hy sinh vì nghiệp lớn, nhưng má không tránh được nỗi buồn. Hôm ra đồn lính xin nhận xác con về chôn, má cố nén chặt niềm đau riêng để nước mắt chảy ngược vào. Má tự dặn mình không được khóc, không được tỏ ra mềm yếu trước bọn lính. Thế nhưng khi đêm về, má sống trọn với nỗi đau của sự mất mát chẳng thể nào bù đắp được này. Vết thương lòng của má chưa kịp lành miệng, nỗi buồn chưa kịp nguôi ngoai, má lại nhận được tin thằng Tám (Lê Văn Tiến) hy sinh ở Phú Hội, quê của má và được bà con ở đó chôn cất. Tám Tiến ngã xuống trên đất quê ngoại khi tuổi đời vừa mới 25, để lại người mẹ già hơn 60 tuổi và vợ cùng con gái còn thơ dại. Cả đời của má tất tả với miếng cơm manh áo, gánh chịu biết bao sự âu lo của người mẹ trong thời chiến dưới mưa bom, đạn dội; sự mất mát dần những núm ruột dứt ra đã làm má khô cạn nước mắt. Ngày hòa bình đến, anh Lê Văn Phong, người con trai thứ sáu của má trở về. Cùng với vài người con trai, con gái còn sót lại sau cuộc chiến, má trở về mảnh đất cũ dựng tạm lại mái nhà để ở, có chỗ để đặt bàn thờ thờ chồng, thờ con... Má sống với con cháu được 3 năm sau ngày hòa bình rồi mất (năm 1978) ở tuổi 68. Ghi nhận những công lao to lớn của má trong sự nghiệp cách mạng, giải phóng dân tộc, má được Nhà nước truy tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam Anh hùng theo Quyết định số 394/KTCTN ngày 17/12/1994. Má và gia đình được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Độc lập hạng Ba năm 2000.



