Bài viết

TỪ PÁC BÓ ĐẾN TÂN TRÀO

20/08/2026Phường Lâm Viên - Đà Lạt ((LĐ) Đoàn phường Lâm Viên - Đà Lạt)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Tôi cùng anh Vũ Anh lên Pác Bó. Những  ngày qua đã được tin chắc chắn Bác thoát  khỏi tù ngục của bọn Quốc dân Đảng Tưởng  Giới Thạch, và đã trở về nước. Nhưng trên  đường đi vẫn hồi hộp. Khi được nhìn thấy  Bác ở trong căn lán nhỏ trên sườn một quả  đồi, mới thực tin là sự thực.

Bác vẫn như xưa với bộ quần áo chàm  của đồng bào Nùng. Nhìn lâu, thấy Bác có 

* Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Những chặng  đường lịch sử, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà  Nội, 2013, tr.138-151, 210-213, 223-229.

25

gầy và già hơn trước. Không biết lấy gì so  sánh với nỗi mừng khi được gặp lại Bác. Hai năm trước đây, Bác lấy danh nghĩa  là người đại diện của Việt Nam Độc lập  Đồng minh sang Trung Hoa để gặp nhà  đương cục Quốc dân Đảng, nhưng thật  ra là Bác đi gặp Trung ương Đảng Cộng  sản Trung Quốc. Dọc đường, bọn Quốc  dân Đảng khám xét, thấy đồng chí Trung  Quốc đi cùng Bác không có giấy tờ, chúng  bắt cả hai người. Chúng buộc cho Bác tội  Hán gian. Trong hơn một năm trời rơi vào  tay bọn Tưởng, chúng đã chuyển Bác qua  hàng chục nhà giam, bắt Bác phải chịu  đựng mọi sự hà khắc của chế độ nhà tù  Quốc dân Đảng. Có thời gian mắt Bác mờ  đi, chân bước không vững. Sau nhờ những  kinh nghiệm đấu tranh dày dạn của Bác,  kết hợp với phong trào đấu tranh của các

26

đoàn thể trong nước và của Việt kiều, bọn  Tưởng cũng không tìm được chứng cớ gì để  buộc tội, đành phải trả lại tự do cho Bác.  Từ Liễu Châu, Bác tìm cách trở về nước.

Những chuyện về thời kỳ Bác bị bắt,  sau này chúng tôi mới biết nhiều, lúc đó  Bác chỉ kể qua rồi hỏi ngay về tình hình  cách mạng ở trong nước.

Anh Vũ Anh báo cáo về phong trào  trong liên tỉnh, nói rõ những khó khăn  rất lớn trong việc liên lạc với Trung ương  ở miền xuôi, và ngay cả với khu căn cứ  Bắc Sơn - Võ Nhai, sau đó báo cáo về nghị  quyết vũ trang khởi nghĩa của Liên tỉnh  Cao - Bắc - Lạng. Tôi cũng báo cáo tình  hình con đường Nam tiến bị gián đoạn, rồi  trình bày về tình hình đấu tranh chống  khủng bố trong thời gian qua, cơ sở đảng,  cơ sở quần chúng, cơ sở vũ trang lúc đó.

27

Chúng tôi báo cáo xong, Bác nói:  “Phong trào lên, địch khủng bố là chuyện  tất nhiên, nhưng có phần vì ta bộc lộ lực  lượng”. Bác nhắc lại những cuộc duyệt  binh huy động đến hàng ngàn người.

Sau đó, Bác nhận xét nghị quyết của  Liên tỉnh: “Chủ trương phát động chiến  tranh du kích ở Cao - Bắc - Lạng là mới  chỉ căn cứ vào tình hình địa phương mà  chưa căn cứ vào tình hình cụ thể trong cả  nước, mới chỉ thấy bộ phận mà chưa thấy  toàn cục. Trong điều kiện bây giờ, nếu  phát động ngay nhân dân nhất tề nổi lên  đánh du kích theo quy mô và phương thức  đã định trong nghị quyết, thì sẽ gặp nhiều  khó khăn, có thể còn khó khăn hơn thời kỳ  bị khủng bố vừa rồi. Bởi vì, các địa phương  khác trong toàn quốc tuy phong trào cách  mạng đang lên cao nhưng hiện chưa nơi

28

nào có điều kiện vũ trang chiến đấu để  sẵn sàng hưởng ứng: tình hình khu căn cứ  Bắc Sơn - Vũ Nhai ra sao, cũng chưa nắm  được. Quân khởi nghĩa Cao - Bắc - Lạng  đơn độc dấy lên, nhất định đế quốc sẽ mau  chóng tập trung lực lượng đàn áp. Riêng  về mặt quân sự, thì cũng không theo đúng  nguyên tắc tập trung lực lượng; cán bộ, vũ  khí đều phân tán, thiếu hẳn một lực lượng  nòng cốt”.

Những nhận xét của Bác đã giúp chúng  tôi nhìn rõ vấn đề. Thực ra, trong những  ngày qua, tiến hành chuẩn bị phát động  chiến tranh du kích, tuy mọi người đều  phấn khởi, nô nức, nhưng cũng đã thấy  xuất hiện khá nhiều câu hỏi quan trọng  chưa giải đáp được. Cho đến nay, cuộc đàn  áp của binh lính địch vẫn nhằm chủ yếu  vào những người hoạt động cách mạng và

29

những người chúng nghi có liên quan với  cách mạng; nói chung, trong khi chúng  khủng bố, nhân dân vẫn ở lại làng bản làm  ăn. Nhưng nếu phát động chiến tranh du  kích toàn dân, chúng sẽ tiến công vào từng  làng, từng bản, từng địa phương, khi đó sẽ  giải quyết vấn đề bảo vệ nhân dân, tản cư  nhân dân ra sao? Nếu đưa nhân dân vào  rừng thì tổ chức cuộc sống mới tại đây như  thế nào? Làm cách nào để nhân dân có thể  tiếp tục tăng gia sản xuất nếu cuộc khủng  bố kéo dài ngày?... Những vấn đề này tại  Hội nghị Liên tỉnh đều chưa được bàn bạc  kỹ lưỡng và chưa đề ra những giải pháp  cụ thể.

Bác nhận định: “Bây giờ thời kỳ cách  mạng hòa bình phát triển đã qua, nhưng  thời kỳ toàn dân khởi nghĩa chưa tới. Nếu  bây giờ chúng ta vẫn chỉ hoạt động bằng

30

hình thức chính trị thì không đủ để đẩy  mạnh phong trào đi tới. Nhưng phát động  vũ trang khởi nghĩa ngay thì quân địch sẽ  tập trung đối phó. Cuộc đấu tranh bây giờ  phải từ hình thức chính trị tiến lên hình  thức quân sự. Song hiện nay chính trị còn  trọng hơn quân sự. Phải tìm ra một hình  thức thích hợp thì mới có thể đẩy phong  trào tiến lên. Nếu phát động đấu tranh mà  mỗi khi địch đến, nhân dân lại phải tản  cư vào rừng núi, thì sẽ gặp rất nhiều khó  khăn. Phải làm sao, cứ hoạt động vũ trang  mà dân ở đâu cứ ở đấy sản xuất, chỉ cần  tăng cường canh gác đề phòng không để  địch bắt, hại những người hoạt động...”.

Rồi Bác đề ra một cách giải quyết: “Lực  lượng vũ trang của ta hiện nay đã ít lại  phân tán quá. Bây giờ nên tập hợp những  cán bộ, chiến sĩ anh dũng nhất, những

31

vũ khí tốt nhất, tổ chức thành một đội vũ  trang tập trung để hoạt động. Ta sẽ dùng  hình thức vũ trang để gây ảnh hưởng cách  mạng sâu rộng trong quần chúng. Tác  chiến nhằm gây được ảnh hưởng tốt về  chính trị, do đó mà mở rộng cơ sở, phát  triển lực lượng vũ trang. Chúng ta sẽ lập  Đội quân Giải phóng...”.

Ngay trong buổi họp đó, tôi được chỉ  định đảm nhiệm công tác này.

Rồi Bác hỏi:

- Việc này chú Văn phụ trách, chú Văn  có thể làm được không?

Tôi đáp:

- Có thể được.

Tôi trình bày cơ sở chính trị và vũ trang  tại vùng giáp giới hai tỉnh Cao Bằng - Bắc  Kạn, từ Nguyên Bình đến Ngân Sơn, Chợ  Rã, từ Tĩnh Túc, Phia Uắc đến Phia Bioóc.

32

Cơ sở quần chúng tại vùng này rất tốt,  qua suốt thời khủng bố của địch vẫn vững  vàng, cơ sở lực lượng vũ trang cũng tốt. Trước khi quyết định, Bác hỏi:

- Có thể tìm được một căn cứ “tiến khả  dĩ công, thoái khả dĩ thủ”, mình còn yếu,  địch mạnh, nhưng nhất định không để  địch tiêu diệt, có thể như thế được không?

Tôi đáp:

- Có thể. Nhất định quân địch không  thể tiêu diệt ta được.

Khi trả lời Bác như vậy, tôi đã nghĩ đến  sức mạnh vô cùng to lớn của đồng bào,  nghĩ đến lòng yêu nước tha thiết, có thể  hy sinh tất cả vì Tổ quốc, của những người  dân đã được Đảng giác ngộ. Lòng yêu nước  và tinh thần hy sinh đó, tôi càng thấy rõ  hơn sau những ngày khủng bố đẫm máu  của quân thù.

33

Đêm hôm ấy, chúng tôi nằm nghe Bác  nói chuyện rất khuya. Trên núi cao, cái  rét của mùa đông đến sớm hơn. Trong  căn lều lạnh giá, không đèn đóm, Bác và  chúng tôi, mỗi người gối đầu lên một khúc  gỗ cứng. Bác phác ra những nét chính về  Đội Việt Nam Giải phóng quân, từ tổ chức  đến phương châm hành động, và vấn đề  cung cấp lương thực, đạn dược. Bác hướng  dẫn cho tôi làm một bản kế hoạch. Bác  dặn đi dặn lại nhiều lần: “Phải dựa vào  dân, dựa chắc vào dân thì kẻ địch không  thể nào tiêu diệt được. Tổ chức của Đội  phải lấy chi bộ đảng làm hạt nhân lãnh  đạo”. Chuyện trò hào hứng đến hai, ba  giờ sáng.

Sáng hôm sau, tôi cùng anh Lê Quảng  Ba lên mỏm núi sau cơ quan trao đổi kế  hoạch. Chúng tôi thấy lúc đầu nên tổ chức

34

ra một trung đội gồm ba tiểu đội. Lực lượng  sẽ rút ra từ các đội vũ trang các châu Hà  Quảng, Hòa An, Nguyên Bình. Chúng tôi  trao đổi từng tên các chiến sĩ. Phần lớn các  học sinh quân ở Trung Quốc sắp về cũng  sẽ được đưa vào Đội. Cán bộ phụ trách thì  chọn trong các đội vũ trang châu và học  sinh quân. Những hoạt động đầu tiên của  Đội sẽ nhằm đánh vào một vài đồn địch,  cướp súng đạn của giặc, phải đánh thắng  thật giòn giã để khuếch trương thanh thế.  Nguồn cung cấp sẽ dựa vào nhân dân.

Buổi chiều, cuộc họp lại tiếp tục. Chúng  tôi báo cáo lại kế hoạch đã dự thảo. Nghe  xong, Bác nói:

- Được. Tình hình quốc tế đang có nhiều  điều kiện thuận lợi. Trong vòng một tháng  phải có hoạt động. Trận đầu nhất định  phải thắng lợi.

35

Đúng vào dịp này, anh chị Tống Minh  Phương và bà con Việt kiều ở Côn Minh lại  mới gửi về một số vũ khí: một khẩu tiểu liên  Mỹ Sub machine gun và 150 viên đạn, sáu  quả bom lửa, một hộp bom nổ chậm. Cùng  với số vũ khí này, chúng tôi còn được nhận  thêm 500 đồng để chi phí về quân nhu.

Sau khi suy nghĩ, Bác đề nghị thêm  hai chữ “tuyên truyền” vào tên Đội quân  Giải phóng cho đúng với nhiệm vụ hiện  tại của nó.

Chúng tôi được giao trách nhiệm điều  động tất cả 34 đội viên và cán bộ trong các  đội vũ trang địa phương, hai khẩu súng  thập, 17 khẩu súng trường vừa giáp năm,  giáp ba, vừa khai hậu và súng Tàu chế  tạo, 14 khẩu súng kíp.

Thế là Đội Việt Nam Tuyên truyền giải  phóng quân ra đời.

36

Như vậy, trong toàn khu Cao - Bắc -  Lạng sẽ có ba hình thức tổ chức của lực  lượng vũ trang: Đội Việt Nam Tuyên  truyền Giải phóng quân là đội chủ lực, các  châu có đội vũ trang của châu, tại xã có  những đội tự vệ nửa vũ trang.

Chúng tôi có hỏi Bác: “Đội tuyên truyền  hoạt động theo kế hoạch của Liên tỉnh,  khi tới một địa phương thì quan hệ giữa  đội chủ lực và các lực lượng vũ trang địa  phương ra sao?”.

Bác nói: “Thống nhất chỉ đạo cả chủ lực  và địa phương. Ba lực lượng ấy đoàn kết  phối hợp chặt chẽ với nhau. Đội chủ lực  có nhiệm vụ dìu dắt, giúp đỡ các đội địa  phương trưởng thành”. Điều Bác nói đó,  chính là phương châm xây dựng lực lượng  vũ trang của Đảng, chúng ta đã thực hiện  trong suốt cuộc kháng chiến lâu dài, gian

37

khổ của toàn dân và đã thấy được những  hiệu lực vô cùng mạnh mẽ.

Anh em trong cơ quan mấy ngày trước  đã nghe ngóng thấy Bác không đồng ý với  nghị quyết phát động chiến tranh du kích  của Liên tỉnh ủy, kém phần phấn khởi, lúc  này được biết quyết định mới của Bác, vui  hẳn lên.

Một buổi sớm đầu tháng chạp, chúng tôi  từ giã Bác, trở về. Bác căn dặn chúng tôi  một lần nữa: “Nhớ bí mật: ta ở đông, địch  tưởng ta ở tây, lai vô ảnh, khứ vô tung”.

Trong đầu chúng tôi đã hiện lên một  viễn ảnh huy hoàng về tương lai của đội  quân cách mạng, và thấy cần làm sao cho  viễn ảnh đó sẽ trở thành sự thật chứ không  phải chỉ là một hình ảnh nằm trong ước mơ.  Dọc đường, tôi nghĩ đến những lời tuyên thệ  Đội quân Giải phóng sẽ đọc dưới cờ. Tôi nhớ

38

tới những lời thề danh dự của đội du kích  Pháp chống phát xít Đức do Đảng Cộng  sản Pháp lãnh đạo.

Qua Hà Quảng, ghé vào gặp đội vũ trang  châu để điều động một số đồng chí theo kế  hoạch đã định tại Pác Bó. Tại đây, chúng tôi  gặp anh Hoàng Văn Thái và một số học sinh  quân mới từ Trung Quốc về nước. Những  đồng chí được điều động rất phấn khởi.  Anh em gặp nhau trong một khu rừng già.  Chúng tôi ngồi cả trên một phiến đá lớn và  phẳng, dưới một vòm cây cổ thụ, nói chuyện.  Một đồng chí đi bắn mấy con khỉ, đem về  làm thức ăn cho bữa cơm liên hoan.

Số người đã hơi đông, đi cả đoàn không  tiện, chúng tôi chia thành mấy nhóm nhỏ  cùng về Liên tỉnh.

Trong thời gian tiến hành công cuộc  chuẩn bị vũ trang khởi nghĩa, Liên tỉnh

39

cũng đã nhìn thấy những khó khăn, khi  nghe chúng tôi phổ biến quyết định của  cuộc họp tại Pác Bó, các đồng chí đều hoan  nghênh và rất vui mừng. Chúng tôi cùng  Liên tỉnh ủy trao đổi kế hoạch về việc điều  động lực lượng. Liên tỉnh ủy lập tức ra chỉ  thị cho các châu tích cực đóng góp, giúp  đỡ mọi mặt trong việc xây dựng Đội tuyên  truyền, và gấp rút điều tra tình hình các  đồn địch tại địa phương.

Khi chúng tôi về qua Lam Sơn, vào gặp  Đội vũ trang để điều động một số đồng chí,  thì các đồng chí ở đây biết tin từ trước, đã  sẵn sàng đón đợi chúng tôi đến để cùng  lên đường.

*

* *

Chúng tôi trở về tổng Hoàng Hoa Thám.  Các đồng chí đi trước đã chọn một địa điểm

40

trú quân tại trong rừng. Anh em làm cấp  tốc mấy cái lán. Đồng bào địa phương giúp  đỡ hoàn toàn về lương thực, cơm nước. Ba,  bốn trạm đón tiếp được tổ chức trên mấy  đỉnh núi, giáp giới Cao Bằng, Bắc Kạn để  đón cán bộ, đội viên từ các châu tiếp tục về  tập trung.

Chi bộ đảng của Đội Việt Nam Tuyên  truyền Giải phóng quân thành lập, lúc  đầu gồm các đồng chí: Xích Thắng, Hoàng  Sâm, Hoàng Văn Thái và tôi. Đồng chí  Xích Thắng làm thư ký chi bộ.

Ban Chỉ huy Đội được chỉ định: đồng  chí Hoàng Sâm, đội trưởng; đồng chí Xích  Thắng, chính trị viên.

Để thi hành đúng chỉ thị của Bác:  “Trong vòng một tháng phải có hoạt động  để gây tin tưởng cho các chiến sĩ và gây  truyền thống hành động tích cực nhanh  chóng cho bộ đội”. Chúng tôi họp bàn kế

41

hoạch tác chiến, và quyết định sẽ chiến  đấu ngay sau khi thành lập Đội. Vấn đề đặt ra là đánh ở đâu? Có ý kiến  nêu lên là không nên đánh vào những nơi  có cơ sở của ta để tránh cho cơ sở bị địch  khủng bố. Nhưng khi bàn, thấy đánh vào  nơi không có cơ sở thì chuẩn bị sẽ rất khó  khăn, không nắm được địch tình, khi đánh  thiếu sự giúp đỡ của nhân dân, khó bảo  đảm thắng lợi. Chúng tôi nhận thấy trận  đánh đầu tiên chỉ có thể thành công nếu  đánh vào những nơi có cơ sở nhân dân thật  tốt, giúp đỡ cho bộ đội chuẩn bị thật chu  đáo. Các đồng chí tại các địa phương có  địch đóng, đều yêu cầu cứ đánh, còn đối  với sự khủng bố của kẻ địch, chỉ cần có một  kế hoạch đề phòng cho nhân dân. Một điều rất quan trọng khác phải bàn bạc  là đánh cách nào? Trong trận đầu chúng ta

42

phải giành được thắng lợi mà không để bị  tổn thất nặng nề về người cũng như về vũ  khí. Lực lượng của ta trong thời kỳ trứng  nước này còn rất mỏng manh. Vũ khí đã  thiếu, đạn dược càng thiếu hơn. Mỗi khẩu  súng trường chỉ có trung bình hai mươi  viên đạn. Chỉ cần đánh một hai trận là  sẽ bắn đến viên đạn cuối cùng, và khi đó  khẩu súng trường, thứ vũ khí chủ lực của  Đội, sẽ trở nên vô dụng. Khi bàn bạc thấy,  nếu đánh phục kích các đội quân lưu động  của địch thì tương đối dễ đạt thắng lợi và  bộ đội cũng đỡ bị tổn thất. Nhưng cũng  lại thấy, đánh phục kích thì chỉ có thể thu  được một số súng mà không giải quyết  được vấn đề đạn dược. Bọn chỉ huy người  Pháp vốn không tin ở binh lính người Việt,  khi đi tuần tiễu chúng chỉ phát cho mỗi  tên lính từ năm đến mười viên đạn. Về vũ

43

khí lúc này, súng chưa quan trọng bằng  đạn dược. Mặt khác, muốn đánh phục kích  phải có thời gian mới gặp hoặc tạo nên  được cơ hội, như vậy sẽ khó hoàn thành  nhiệm vụ trong vòng một tháng. Cuối  cùng chúng tôi đi đến quyết định, trong  mấy trận đầu phải tập kích vào đồn trại  của địch để chiếm lấy đạn dược, mặc dầu  đánh tập kích khó khăn hơn.

Một số đồn trại địch đóng trên dưới một  trung đội trong vùng Kim Mã và Cẩm Lý  được chọn để tiến hành công tác điều tra:  đồn Phai Khắt và đồn Nà Ngần.

Các đồng chí Hồng Quân, Đức Long  được phái đi trinh sát. Thực ra, các làng  địch đóng đồn là quê của nhiều đồng chí  trong Đội. Địch ở Phai Khắt đóng chính  ngay tại nhà đồng chí Lạc. Anh em có thể  vẽ lấy sơ đồ đồn địch, rồi phái một số đồng

44

chí đến nơi đối chiếu lại, là biết rõ địa hình.  Việc khó khăn hơn là làm sao đột nhập  đồn địch, điều tra cách bố trí, sắp đặt bên  trong, và mọi quy luật hoạt động, sinh hoạt  hằng ngày của chúng. Người trinh sát đầu  tiên của Đội lọt vào đồn là em bé Hồng.

Hồng mới mười hai tuổi. Ngày ngày, em  phải mang bánh và rượu vào cho tên quan  Tây trong đồn. Em đã lân la trò chuyện với  lính địch, xem kỹ kho lương, kho đạn, nơi  ăn ngủ, nơi canh gác, giờ giấc sinh hoạt,  tập họp của địch. Đêm đêm, em luồn ra  khỏi lũy tre làng đến báo cáo với Đội.

Căn cứ vào những quy luật hoạt động  của địch tại vùng này, chúng tôi bàn nhau  thấy có thể cải trang làm lính dõng để đột  nhập đồn địch.

Các đồng chí trung kiên dưới làng đi tìm  gặp những hội viên là lính dõng hoặc trước

45

kia đã đi lính dõng, mượn ba chục bộ quần  áo. Cũng phải tìm một số hội viên là cựu  binh sĩ, mượn thêm mấy bộ quần áo kaki  cải trang thành lính tập vì những đoàn  lính dõng đi tuần bao giờ cũng có lính tập  đi kèm. Ngoài ra, còn phải chuẩn bị một  số nón lính. Các chị ở dưới làng lên, mang  theo vải chàm và kim chỉ để khâu áo nón.  Nón của dõng bọc vải chàm, có viền vành  trắng và điểm một miếng tròn trắng trên  chóp. Khi qua cơ quan in báo Việt Nam độc  lập, tôi đã mượn máy chữ ngồi đánh mấy  tờ “Giấy đi tuần” giả. Các đồng chí tại cơ  quan đã cắt củ khoai, trổ một con dấu rất  khéo, đóng đỏ chót bên cạnh chữ ký. Hồi  đó, những giấy giới thiệu đánh bằng máy  chữ là loại giấy có giá trị.

Ba chiếc lán bên sườn núi đã làm xong.  Các đồng chí nhận lệnh điều động đã về

46

đầy đủ. Bà con hội viên ở dưới làng có  nhiệm vụ đi lại nơi trú quân để giúp đỡ  Đội, lần đầu thấy quân cách mạng tập  trung đông đảo như vậy, súng ống lại  nhiều, đều hết sức phấn khởi. Không khí  tấp nập như ngày hội.

Chúng tôi tiếp tục hoàn thành việc  thảo những lời thề và những điều kỷ luật  của Đội.

Mọi việc chuẩn bị đã xong.

Một ngày trước lễ thành lập Đội, chúng  tôi nhận được một bức thư nhỏ của Bác đặt  trong một bao thuốc lá. Giở ra, đó là chỉ thị  của Bác về việc thành lập Đội Việt Nam  Tuyên truyền Giải phóng quân.

“1. Tên Đội Việt Nam Tuyên truyền  giải phóng quân nghĩa là chính trị trọng  hơn quân sự. Nó là đội tuyên truyền. Vì  muốn hành động có kết quả thì về quân

47

sự, nguyên tắc chính là nguyên tắc tập  trung lực lượng, cho nên, theo chỉ thị mới  của Đoàn thể, sẽ chọn lọc trong hàng ngũ  những du kích Cao - Bắc - Lạng số cán bộ  và đội viên kiên quyết, hăng hái nhất và  sẽ tập trung một phần lớn vũ khí để lập ra  đội chủ lực.

Vì cuộc kháng chiến của ta là cuộc  kháng chiến của toàn dân cần phải động  viên toàn dân, vũ trang toàn dân, cho nên  trong khi tập trung lực lượng để lập một  đội quân đầu tiên, cần phải duy trì lực  lượng vũ trang trong các địa phương cùng  phối hợp hành động và giúp đỡ về mọi  phương diện. Đội quân chủ lực trái lại có  nhiệm vụ dìu dắt cán bộ vũ trang của các  địa phương, giúp đỡ huấn luyện, giúp đỡ  vũ khí nếu có thể được, làm cho các đội này  trưởng thành mãi lên.

48

2. Đối với các đội vũ trang địa phương:  đưa các cán bộ địa phương về huấn luyện,  tung các cán bộ đã huấn luyện đi các địa  phương, trao đổi kinh nghiệm, liên lạc  thông suốt, phối hợp tác chiến.

3. Về chiến thuật: vận dụng lối đánh du  kích, bí mật, nhanh chóng, tích cực, nay  Đông mai Tây, lai vô ảnh, khứ vô tung.

Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng  quân là đội quân đàn anh, mong cho chóng  có những đội đàn em khác.

Tuy lúc đầu quy mô của nó còn nhỏ,  nhưng tiền đồ của nó rất vẻ vang. Nó là khởi  điểm của giải phóng quân, nó có thể đi suốt  từ Nam chí Bắc, khắp đất nước Việt Nam”1.

*

* *

1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc  gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t.3, tr.539-540.

49

Về đến Chợ Chu đúng vào ngày 1-5,  chúng tôi dừng lại đây làm mít tinh kỷ  niệm ngày Quốc tế Lao động. Một số tin  mừng đến. Bên chiến trường châu Âu, phát  xít Đức sắp hoàn toàn gục ngã trước Hồng  quân Liên Xô và Đồng minh. Cũng lúc ấy,  được tin Bác đi xa mới về, đang từ biên giới  xuống với chúng tôi. Trước đó, có tin Bác  định về dưới này, chúng tôi đã đề nghị Bác  đi theo con đường Nam tiến Bác đã vạch ra  cho Đội tuyên truyền ngày trước.

Tôi vội vã đi đón Bác. Dọc đường, ngựa  phóng nhanh quên nghỉ. Lên đèo De, qua  Nghĩa Tá, tới Nà Kiên thì vừa gặp Bác  đang đi về. Bác ngồi trên mình ngựa, có vẻ  mệt sau một chặng đường xa, mặt võ, râu  để dài, duy đôi mắt Bác vẫn tinh anh như  bất cứ lúc nào.

Từ ngày Bác giao nhiệm vụ xây dựng Đội  Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân

50

đến bây giờ tôi mới được gặp lại Bác. Tôi  không nén được xúc động, báo cáo với Bác: - Vùng giải phóng đã mở rộng...  Tôi trình bày với Bác tình hình phong  trào nhân dân trong những vùng rộng lớn  mà chúng tôi đi qua, từ ngày Bác chỉ thị  thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền giải  phóng quân. Tôi báo cáo đã liên lạc được  với Trung ương, đã gặp anh Trường Chinh  và các anh, phong trào cách mạng ở miền  xuôi đang lên mạnh. Bác chăm chú nghe,  bình tĩnh, điềm đạm, trong đôi mắt Bác có  ánh vui.

Bác kể chuyện tình hình bên ngoài, thời  cơ cũng đang có lợi cho ta. Bác nói, cần  chọn ngay trong vùng Cao - Bắc - Lạng  hoặc Tuyên Quang, Thái Nguyên một địa  điểm có dân tốt, có cơ sở cách mạng tốt, địa  hình tốt, có thể thuận tiện làm một trung

51

tâm liên lạc với miền xuôi, miền ngược và  ra nước ngoài.

Tôi trở về Kim Quan Thượng bàn với  anh Song Hào. Chúng tôi nhận thấy nên  chọn vùng Tân Trào. Tân Trào là một vùng  rừng núi hiểm trở, giữa Tuyên Quang và  Thái Nguyên, rất xa đường cái lớn. Từ  ngày các anh Song Hào, Tạ Xuân Thu...  thoát ngục Chợ Chu, đã về đây cùng các  đồng chí Dục Tôn, Lê Trung Đình... xây  dựng cơ sở và thành lập chính quyền cách  mạng. Nhân dân và cơ sở tại đây rất tốt.

Bác về đến Tân Trào vào một buổi trưa,  anh Song Hào cùng một số đồng chí cán bộ  đón Bác trước đình Hồng Thái.

Bác ở lại ít ngày tại một gia đình cơ sở  xóm Kim Lộng rồi chuyển lên một chiếc lán  nhỏ làm trên sườn một quả đồi. Tiếng đồn  bay đi khắp nơi: “Có Ông Cụ đã cao tuổi,

52

sao mà nhanh nhẹn, tài giỏi, tốt đến thế.  Dân mình lắm người tài, phen này nhất  định lấy lại được nước”.

Thời gian này anh Cả1 ở xuôi lên và  anh Hoàng Quốc Việt ở nước ngoài mới về,  cũng đến Tân Trào. Tôi báo cáo lại với Bác  và các anh những nghị quyết của Hội nghị  quân sự Bắc Kỳ. Bác nhận xét Hội nghị  tiến hành rất tốt, nhưng Bác nói: “Chia  các tỉnh ra làm nhiều chiến khu như thế  rườm rà quá, không lợi cho việc chỉ huy  chung. Nay vùng giải phóng ở miền ngược  đã bao gồm các tỉnh Cao Bằng, Bắc Kạn,  Lạng Sơn, Hà Giang, Tuyên Quang, Thái  Nguyên, địa thế nối liền với nhau, nên  lập thành một khu căn cứ lấy tên là Khu  giải phóng. Thống nhất các lực lượng vũ 

1. Đồng chí Nguyễn Lương Bằng.

53

trang lại là rất đúng, nên đặt tên là Quân  Giải phóng”. Bác bàn với chúng tôi làm dự  thảo nghị quyết về việc thành lập Khu giải  phóng và quyết định triệu tập Hội nghị  cán bộ toàn khu để thống nhất lãnh đạo  và triển khai công tác.

Theo Nghị quyết của Hội nghị cán bộ  ngày 4-6-1945, được triệu tập theo chỉ thị  của Bác, Khu giải phóng phải trở thành  một căn cứ địa vững chắc về mọi mặt:  chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa để làm  bàn đạp Nam tiến, giải phóng toàn quốc.

Tân Trào được chọn làm Thủ đô của  Khu giải phóng.

Ủy ban chỉ huy lâm thời Khu giải phóng  được thành lập. Tình hình cụ thể của các  chiến khu, các địa phương trong Khu giải  phóng bấy giờ rất khẩn trương. Ủy ban chỉ  huy lâm thời Khu chưa kịp họp lần nào.

54

Tôi được chỉ định làm thường trực của Ủy  ban, một mặt giữ liên lạc với Trung ương  dưới xuôi, với các anh Lê Thanh Nghị,  Trần Đăng Ninh tại Bắc Giang, một mặt  giữ liên lạc với Cao Bằng - Bắc Sơn.

Trên đất nước còn mang đầy vết thương  và những bóng đen ảm đạm sau gần một  trăm năm bị đô hộ, đã xuất hiện hình ảnh  tươi sáng của nước Việt Nam ngày mai.

.....

Tôi làm việc ở dưới làng, hằng ngày vẫn  lên cơ quan của Bác để báo cáo.

Các đồng chí ở địa phương đã làm cho  Bác một căn lán khá xinh xắn, náu kín  trong khu rừng nứa ở sườn đồi. Lán chia  làm hai gian nhỏ, một bên là nơi Bác nằm  nghỉ, một bên vừa là chỗ làm việc, vừa là  chỗ để tiếp khách.

Bác làm việc không mấy lúc nghỉ ngơi.

55

Lần nào tôi lên cũng thấy Bác đang cặm  cụi với công việc. Mọi giấy tờ, chỉ thị, Bác  đều tự tay đánh máy và đánh số cẩn thận,  rõ ràng.

Cao trào kháng Nhật cứu nước bấy giờ  đã cuồn cuộn từ Bắc chí Nam. Ngay ở các  đô thị lớn, như ở Hà Nội, thợ thuyền, học  sinh, các giới trí thức, người buôn bán  đều tham gia rất đông đảo vào công cuộc  kháng Nhật. Ảnh hưởng của Chính phủ  bù nhìn Trần Trọng Kim ngày càng tiêu  tan, không thể giúp Nhật ngăn cản phong  trào. Toàn thể nhân dân đang hướng về  Việt Minh, trông chờ một cuộc chuyển biến  lớn. Phát xít Nhật ngày càng thua lụn bại.  Không khí khởi nghĩa nóng rực.

Trung ương đã quyết định cần tích cực  chuẩn bị cho cuộc Hội nghị toàn quốc của  Đảng và Quốc dân Đại hội đại biểu. Bác

56

giục chuẩn bị cho kịp họp hai hội nghị  quan trọng này từ tháng 7. Tình hình đã  khẩn trương lắm. Bác nói: “Có thể còn  thiếu một số đại biểu nào đó chưa về kịp  cũng họp, nếu không thì không kịp được  với tình hình chung”. Nhưng, dù chuẩn bị  rất gấp, các đại biểu của Đảng và các đảng  phái dân chủ trong Mặt trận Việt Minh ở  toàn quốc vẫn không thể về đúng hẹn.

Giữa lúc công việc bề bộn như thế, Bác  bỗng bị mệt. Đã mấy hôm liền, Bác sốt  nóng. Song, Bác vẫn gượng làm việc. Mỗi  khi tôi tới thảo luận công việc, hỏi thăm  sức khỏe, Bác chỉ nói: “Chú cứ xuống làm  công tác, tôi không việc gì”. Nhưng tôi  thấy Bác yếu nhiều, người hốc hác hẳn. Có  hôm tôi đến, Bác đang lên cơn sốt, miệng  toàn nói mê. Thuốc men chẳng có, chỉ  kiếm được vài viên thuốc cảm và ký ninh,

57

Bác đã uống, mà không thấy đỡ. Thường  khi, nếu không phải lúc nghỉ, không bao  giờ Bác nằm, thế mà bây giờ Bác phải chịu  nằm, lại mê sảng luôn. Bấy giờ, trong các  đồng chí thường gần Bác, chỉ còn lại mình  tôi ở Tân Trào. Hôm ấy Bác mệt lắm tôi  rất lo. Tôi nói: “Hôm nay tôi cũng thong  thả, xin ở lại với Bác đêm nay”. Bác mở  mắt và hơi gật đầu.

Đêm ấy, tôi nghỉ lại với Bác trên cái  lán ở giữa rừng. Lúc nào tỉnh, Bác chỉ nói  chuyện tình hình: “Lúc này thời cơ thuận  lợi đã tới, dù hy sinh tới đâu, dù phải đốt  cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên  quyết giành cho được độc lập”. Mỗi lúc nhớ  ra điều gì, Bác lại dặn. Bác lúc ấy chắc  cũng thấy mình yếu quá, có ý muốn dặn  lại công việc. Chỉ có công việc! Bác nói về  công tác củng cố phong trào: “Lúc nào cũng

58

phải chú trọng xây dựng chi bộ, bồi dưỡng  cán bộ, đảng viên và phần tử trung kiên.  Trong chiến tranh du kích, lúc phong trào  lên, ta phải hết sức phát triển, vừa phát  triển vừa chú trọng xây dựng căn cứ cho  thật vững chắc, để đề phòng lúc khó khăn  mới có chỗ đứng chân được”.

Suốt đêm ấy, Bác vẫn lúc tỉnh, lúc mê.  Hôm sau, tôi viết thư hỏa tốc về Trung  ương. Tôi lại tìm hỏi bà con địa phương xem  có thứ thuốc men gì không. Bà con nói gần  đây có một ông lang quen trị bệnh sốt nóng.  Tôi cho người cưỡi ngựa đi đón ông thầy về.  Ông cụ lang già người Tày xem mạch, sờ  trán Bác, rồi đốt cháy một thứ củ vừa đào  trong rừng về, hòa vào cháo loãng đưa Bác  ăn. Sau đó Bác tỉnh. Hôm sau, Bác ăn thêm  vài lần với cháo loãng nữa, cơn sốt nhẹ dần.  Bác lại gượng dậy tiếp tục làm việc ngay.

59

Mặc dầu Bác đã chỉ thị viết nhiều thư  hỏa tốc, tung giao thông đặc biệt đi các  hướng để thúc giục các đại biểu, nhưng  vì đường sá trắc trở, liên lạc khó khăn,  nhiều đại biểu đã cố gắng đi cho chóng,  mà mãi tới 13, 14 tháng 8 mới lên tới Tân  Trào. Có những đoàn đại biểu 16, 17, 18  mới đến kịp.

Trung ương và Tổng bộ Việt Minh quyết  định không thể đợi lâu hơn nữa.

Ngày 11, 12, tin vô tuyến điện cho biết  có hiện tượng nguy ngập tan rã trong quân  đội Nhật.

Ngày 13 tháng 8, có tin Nhật đầu hàng  Đồng minh, quân đội Nhật ở hầu khắp các  nơi đã ngừng chiến đấu.

11 giờ đêm 13, Ủy ban chỉ huy lâm thời  Khu giải phóng hạ mệnh lệnh khởi nghĩa  cho nhân dân và bộ đội...

60

Nửa đêm nhận lệnh, bộ đội và nhân  dân reo mừng, sẵn sàng chiến đấu hy sinh  để thực hiện nhiệm vụ lớn. Các đơn vị  Giải phóng quân đóng tại Chợ Chu, Tuyên  Quang được lệnh chuyển gấp về tập trung  tại Tân Trào.

Ngày 14 tháng 8, Hội nghị toàn quốc  của Đảng họp, Bác vừa dứt cơn sốt, gượng  tới họp, người còn võ vàng, Hội nghị nhận  định: “Cơ hội rất tốt cho ta giành quyền  độc lập đã tới”. Hội nghị quyết định mục  đích của cuộc chiến đấu là giành quyền  độc lập hoàn toàn cho đất nước, thành  lập chính quyền nhân dân, thi hành Mười  chính sách lớn của Việt Minh, định chính  sách ngoại giao đối với Đồng minh. Để đạt  mục đích đó, phải huy động toàn thể nhân  dân, gồm tất cả các giới, các đảng phái  tham gia phong trào cứu quốc, phải gấp

61

rút vũ trang nhân dân chống Nhật và mở  rộng Giải phóng quân Việt Nam. Hội nghị  định ra nhiệm vụ quân sự cần kíp, những  nguyên tắc của kế hoạch tác chiến, thống  nhất các lực lượng vũ trang thành Giải  phóng quân Việt Nam; gấp rút củng cố và  phát triển bộ đội, thống nhất biên chế, kỷ  luật, tăng cường công tác chính trị; tổ chức  đảng trong quân đội lấy trung đội làm đơn  vị cơ sở; củng cố các tổ chức chiến đấu và  tiểu tổ du kích để lập những đơn vị Giải  phóng quân mới ở ngoài Khu giải phóng.

Sáng ngày 15, được tin đích xác Nhật  Hoàng đã ra lệnh cho quân đội Nhật đầu  hàng, Hội nghị toàn quốc của Đảng đang  họp quyết định thành lập Ủy ban khởi  nghĩa toàn quốc để lãnh đạo Tổng khởi  nghĩa và lập Bộ Tư lệnh Giải phóng quân  Việt Nam.

62

Một số chúng tôi ngừng họp và nhận  nhiệm vụ mới. Tôi sẽ cùng Giải phóng  quân tiến về phía nam. Anh Song Hào về  phía Tuyên Quang cùng các đồng chí ở đấy  lãnh đạo nhân dân cướp chính quyền các  tỉnh phía tây.

Chiều 16 tháng 8, một đơn vị Giải  phóng quân tập hợp dưới cờ làm lễ xuất  phát tiến về Nam. Các đại biểu về dự Quốc  dân Đại hội đều có mặt dưới cây đa cổ thụ,  cạnh ngôi nhà Hội đồng Cứu quốc xã Tân  Trào để đưa bộ đội lên đường chiến đấu.  Chưa bao giờ Tân Trào lại đón tiếp một  đoàn người nhiều màu sắc như vậy. Cùng  với màu chàm rừng núi quen thuộc, còn có  màu nâu dày dạn của đồng bằng, và những  màu sắc tươi sáng của đô thị. Những chiến  sĩ Giải phóng quân, quần áo đủ kiểu, mang  trên người dấu vết của những cuộc vật lộn

63

ác liệt với quân thù trên các nẻo đường  rừng, trên các triền núi đá Việt Bắc, tề tựu  nghiêm trang dưới cờ nghe đọc bản Quân  lệnh số I1 của Ủy ban khởi nghĩa:

Hỡi quân dân toàn quốc!

12 giờ trưa ngày 13-8-1945, phát xít  Nhật đã đầu hàng Đồng minh, quân đội  Nhật đã bị tan rã tại khắp các mặt trận.  Kẻ thù chúng ta đã ngã gục.

Giờ Tổng khởi nghĩa đã đến!

Cơ hội có một cho quân dân Việt Nam  vùng dậy giành lấy quyền độc lập của  nước nhà!

Mang nhiệm vụ lãnh đạo cuộc khởi  nghĩa toàn quốc cho đến toàn thắng, Ủy  ban khởi nghĩa đã thành lập.

1. Quân lệnh số I của Ủy ban khởi nghĩa do anh  Trần Huy Liệu khởi thảo.

64

Hỡi các tướng sĩ và đội viên Quân Giải  phóng Việt Nam!

Dưới mệnh lệnh của Ủy ban khởi  nghĩa, các bạn hãy tập trung lực lượng,  kíp đánh vào các đô thị và trọng trấn của  quân địch; đánh chẹn các đường rút lui  của chúng, tước võ khí của chúng! Đạp  qua muôn trùng trở lực, các bạn hãy kiên  quyết tiến!

Hỡi nhân dân toàn quốc!

Dưới mệnh lệnh của Ủy ban khởi nghĩa,  đồng bào hãy đem hết tâm lực ủng hộ đạo  Quân Giải phóng, sung vào bộ đội, xông ra  mặt trận đánh đuổi quân thù.

Chúng ta phải hành động cho nhanh,  với một tinh thần vô cùng quả cảm, vô  cùng thận trọng!

Tổ quốc đang đòi hỏi những hy sinh lớn  lao của các bạn!

65

Cuộc thắng lợi hoàn toàn nhất định sẽ  về ta!

Ngày 13 tháng 8 năm 1945, 11 giờ đêm ỦY BAN KHỞI NGHĨA”1

Trong lòng chúng tôi khi đó rạo rực lạ  thường. Trước mắt chúng tôi là lá cờ đỏ sao  vàng rực rỡ hào quang, xa xa là nền trời  xanh cao lồng lộng, tươi sáng vô cùng của  nước Việt Nam giải phóng.

Đoàn quân Giải phóng, áo vải chân đất,  rầm rập tiến về phía nam trước những bàn  tay vẫy chào chúc mừng thắng lợi, cất cao  lời ca hùng tráng.

Cờ giải phóng phất cao, mau thẳng tiến!

1. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng  toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t.7,  tr.421-422.

66

Trời phương Nam, dân chúng đang  ngóng chờ... 

Tại Tân Trào, lần đầu từ khi về, Bác ra  mắt các đại biểu đồng bào Trung, Nam,  Bắc. Quốc dân Đại hội đã lập ra Ủy ban  Dân tộc giải phóng toàn quốc, chuẩn bị khi  cần có thể trở thành Chính phủ nhân dân  lâm thời.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn