TỪ PHẬN PHU CAO SU ĐẾN TRUYỀN THỐNG CÁCH MẠNG CỦA MỘT GIA ĐÌNH
Những năm tháng đất nước đứng lên đấu tranh giành độc lập cũng là lúc truyền thống yêu nước trong gia đình mẹ được thể hiện rõ nét. Năm 1945, người con trai cả là Phạm Văn Luận (Ba Luận) tham gia phong trào Thanh niên Tiền phong trong thời kỳ tiền khởi nghĩa. Khi thực dân Pháp quay trở lại xâm lược nước ta, cuối tháng 10/1945, quân Pháp tiến đánh Xuân Lộc, anh Ba Luận gia nhập bộ đội Xuân Lộc, trực tiếp chiến đấu trên địa bàn huyện. Sau đó, anh chuyển sang Đại đội Lam Sơn, hoạt động tại thị xã Biên Hòa và huyện Vĩnh Cửu. Ở lại đồn điền cao su Cẩm Mỹ, mẹ âm thầm đóng góp gạo, tiền ủng hộ kháng chiến, chung sức cùng những gia đình công nhân khác nuôi dưỡng phong trào cách mạng.

Sinh năm 1896 trong một gia đình nông dân nghèo ở Thanh Hóa, Mẹ Vũ Thị Tin đã trải qua phần lớn cuộc đời trong cảnh lam lũ, nhọc nhằn. Năm 1933, vợ chồng mẹ rời quê hương, đưa gia đình vào miền Nam làm phu công tra tại đồn điền cao su Cẩm Mỹ với mong muốn tìm kiếm một cuộc sống bớt cơ cực. Thế nhưng, nơi đất khách quê người không mang lại cuộc sống như mong đợi. Những người phu cao su phải đối mặt với điều kiện lao động khắc nghiệt, cuộc sống thiếu thốn và sự bóc lột nặng nề của chủ đồn điền. Giữa hoàn cảnh ấy, mẹ tần tảo nuôi dạy các con khôn lớn, vun đắp cho gia đình bằng tất cả sự chịu thương, chịu khó của người phụ nữ nông dân.
Sau Hiệp định Genève năm 1954, cách mạng miền Nam bước vào giai đoạn đấu tranh chính trị trong điều kiện vô cùng khó khăn. Năm 1958, sau những tháng năm dài chịu đựng gian truân, Mẹ Vũ Thị Tin qua đời vì tuổi già sức yếu, hưởng thọ 63 tuổi. Mẹ không còn sống để chứng kiến những bước trưởng thành tiếp theo của các con trên con đường cách mạng, cũng không thể biết hết những hy sinh mà gia đình sẽ phải gánh chịu trong những năm tháng chiến tranh ác liệt sau này.
Năm 1959, khi phong trào cách mạng miền Nam bước vào cao trào Đồng khởi, người con dâu Nguyễn Thị Tiện, vợ anh Ba Luận, một cơ sở mật tại Long Khánh, đã móc nối với đơn vị đồng chí Tư Hy, đưa người em chồng là Phạm Thành Phấn (Năm Phấn) thoát ly tham gia cách mạng vào tháng 6/1959. Đến tháng 5/1961, hai người con trai khác của mẹ là Phạm Văn Ngữ (Tư Ngữ, tức Trần Văn Minh) và Phạm Văn Bích (Sáu Bích) cũng gia nhập bộ đội.
Trên chiến trường Bà Rịa – Long Khánh, những người con của mẹ đã trưởng thành qua từng trận chiến, đảm nhận nhiều nhiệm vụ quan trọng trong lực lượng cách mạng. Anh Năm Phấn từ một chiến sĩ trở thành chính trị viên một đại đội thuộc Tiểu đoàn 445 anh hùng, hy sinh tháng 8/1968 tại Bình Ba, huyện Châu Đức. Anh Tư Ngữ là trung đội phó C.19/E.4, hy sinh ngày 18/12/1969 tại Suối Quýt, Bình Sơn, huyện Long Thành. Anh Sáu Bích giữ chức đại đội phó một đơn vị hậu cần thuộc Phân khu 5, hy sinh ngày 9/10/1971. Ba người con lần lượt ngã xuống trên con đường đấu tranh giải phóng dân tộc, để lại những mất mát không gì bù đắp được cho gia đình.
Dẫu Mẹ Vũ Thị Tin đã đi xa từ năm 1958, những đóng góp của mẹ trong buổi đầu kháng chiến và truyền thống cách mạng của gia đình vẫn được Tổ quốc, nhân dân ghi nhận. Ngày 27/8/1995, Nhà nước truy tặng mẹ danh hiệu cao quý Bà mẹ Việt Nam Anh hùng theo Quyết định số 522/KTCTN. Năm 2000, mẹ và gia đình được Nhà nước trao tặng Huân chương Độc lập hạng Ba.
Cuộc đời mẹ là một hành trình nhiều gian khó, từ quê nghèo Thanh Hóa đến đồn điền cao su Cẩm Mỹ, từ thân phận người phu lao động đến người mẹ có những người con hiến dâng tuổi trẻ và xương máu cho cách mạng. Mẹ không còn hiện diện để đón ngày đất nước thống nhất, nhưng những hy sinh của gia đình mẹ đã góp phần làm nên độc lập, tự do cho dân tộc. Danh hiệu Bà mẹ Việt Nam Anh hùng là sự tri ân sâu sắc của Đảng, Nhà nước và nhân dân đối với người mẹ đã dành cả cuộc đời vun đắp cho quê hương, đất nước.


