Bài viết

Từ “phi công bên kia” đến Phi đội Quyết thắng: cú đánh Tân Sơn Nhất và một tấm huân chương đi lạc

Một ngày tháng Tư, ông Trần Văn On (SN 1948, quê Gò Công, Tiền Giang) ngồi ở một quán cà phê sát cạnh sân bay Tân Sơn Nhất. Tiếng động cơ rền vang phía đường băng khiến ký ức ùa về như phim tua nhanh: chiều 28/4/1975, ông từng có mặt trên bầu trời nơi đây trong Phi đội Quyết thắng, thực hiện trận cường kích bất ngờ góp phần tạo bước ngoặt cho Chiến dịch Hồ Chí Minh. Ông nói chậm rãi, nhưng từng chữ như “đóng đinh” vào trí nhớ: “Nhập nhoạng chiều 28/4 của 50 năm về trước, tôi cùng Phi đội Quyết

Phú Thọ29/12/2025Đoàn xã Tân Lạc (Đoàn xã Tân Lạc)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Từ “phi công bên kia” đến Phi đội Quyết thắng: cú đánh Tân Sơn Nhất và một tấm huân chương đi lạc

Một ngày tháng Tư, ông Trần Văn On (SN 1948, quê Gò Công, Tiền Giang) ngồi ở một quán cà phê sát cạnh sân bay Tân Sơn Nhất. Tiếng động cơ rền vang phía đường băng khiến ký ức ùa về như phim tua nhanh: chiều 28/4/1975, ông từng có mặt trên bầu trời nơi đây trong Phi đội Quyết thắng, thực hiện trận cường kích bất ngờ góp phần tạo bước ngoặt cho Chiến dịch Hồ Chí Minh.

Ông nói chậm rãi, nhưng từng chữ như “đóng đinh” vào trí nhớ:
“Nhập nhoạng chiều 28/4 của 50 năm về trước, tôi cùng Phi đội Quyết thắng cắt bom, oanh tạc sân bay này. Nhưng để có trận đánh ấy, tụi tôi đã chuẩn bị từ đầu tháng Tư…”

Trận đánh bất ngờ và cuộc huấn luyện chớp nhoáng

Ngày 19/4/1975, Bộ tư lệnh Chiến dịch Hồ Chí Minh chỉ đạo Quân chủng Phòng không – Không quân tham gia, mở thêm mặt trận trên không. Yếu tố then chốt là bất ngờ, nên Bộ tư lệnh quyết định dùng máy bay thu được của Mỹ để đánh bom vào Sài Gòn.

Bài toán khó nằm ở chỗ: phi công miền Bắc quen lái MiG (Liên Xô), còn loại máy bay thu được là A-37 thì… “lạ hoắc”. Buồng lái đầy ký hiệu tiếng Anh, thao tác khác, thói quen bay cũng khác.

Vậy là một phương án “cực dị mà cực chuẩn” được triển khai: học A-37 từ chính các phi công hàng binh từng thuộc Không lực Việt Nam cộng hòa. Trong số đó có ông Trần Văn On.

Ông kể lần gặp đầu tiên với các phi công miền Bắc ở Đà Nẵng:
“Người đầu tiên tiếp xúc với tôi là anh Từ Đễ. Nghe gọi lên gặp, tôi sợ lắm. Nhưng vào sân bay nói chuyện, các anh vui vẻ, nhỏ nhẹ, lịch sự… tự nhiên tôi bớt hồi hộp.”

Các anh đề nghị ông và anh Sanh (một phi công hàng binh khác) cùng hỗ trợ tìm hiểu A-37. Ông On vừa hướng dẫn kỹ thuật, vừa dịch ký hiệu, viết tiếng Việt ra giấy rồi dán ngay lên những nút cần dùng nhiều nhất trong buồng lái để anh em dễ nhớ, dễ thao tác.

Ông cười, như vẫn còn thấy cảnh ấy trước mắt:
“Các anh tiếp thu nhanh lắm. Chỉ vài ngày là bay thử thành công.”

Phi đội Quyết thắng xuất kích

Huấn luyện vừa kịp “vào form”, ngày 27/4/1975, ông On cùng các phi công bay vào sân bay Phù Cát (Bình Định). Tại đây, ông tiếp tục bay thử nghiệm 5 chiếc A-37 để chắc chắn máy còn hoạt động tốt, đủ khả năng tham chiến.

Sáng 28/4/1975, tại Phù Cát, Đại tá Lê Văn Tri – Tư lệnh Quân chủng Phòng không – Không quân quyết định lực lượng tham gia chiến đấu gồm 6 phi công:
Nguyễn Văn Lục, Từ Đễ, Hán Văn Quảng, Nguyễn Thành Trung, Hoàng Mai Vượng và Trần Văn On.
Phi đội mang cái tên nghe là thấy “khí thế”: Phi đội Quyết thắng.

Đến 9h30, 5 chiếc A-37 (mỗi chiếc mang 4 quả bom4 thùng dầu) xuất phát từ Phù Cát vào sân bay Thành Sơn (Phan Rang) để chờ lệnh cuối, sẵn sàng bay thẳng vào Sài Gòn.

Ông On kể đội hình: anh Nguyễn Thành Trung am hiểu địa hình Sài Gòn nên bay dẫn đường; sau đó lần lượt là anh Từ Đễ, anh Lục; rồi ông Onanh Vượng; anh Quảng ở vị trí tiếp theo.

Khi tiến vào gần mục tiêu, phi đội bay thấp để tránh radar, rồi chuyển hướng ra phía Bà Rịa – Vũng Tàu để đánh lạc hướng. Trời nhá nhem, đối phương không kịp phát hiện. Phi đội vòng lại, khóa mục tiêu và… cắt bom.

Ông On nhớ rõ một chi tiết căng như dây đàn:
“Khi anh Thành Trung cắt bom thì có 2 trái không rơi. Anh hỏi tôi cách xử lý. Tôi hướng dẫn anh mở thêm công tắc. Anh nắm kỹ thuật, bay vòng lại cắt lần hai thành công… rồi cả đội tập trung, bay về Đà Nẵng.”

Trận cường kích khiến sân bay Tân Sơn Nhất tê liệt, rối loạn. Kế hoạch di tản bằng máy bay phản lực hạng nặng của Mỹ thất bại, buộc phải chuyển sang trực thăng.

Người phi công “đặc biệt”: không tự chọn bầu trời, nhưng chọn quê hương

Suốt nhiều năm, người ta gọi ông On là phi công đặc biệt. Vì ít ngày trước khi trở thành thành viên Phi đội Quyết thắng, ông vẫn là Trung úy phi công của Không lực Việt Nam cộng hòa.

Nhưng ông bảo thật: ông chưa từng mơ làm phi công.

Xuất thân bần cố nông, ông muốn đổi đời bằng học vấn. Vừa đỗ tú tài thì bị bắt quân dịch trong đợt tổng động viên năm 1968. Sức khỏe tốt, học hành được, ông bị chuyển qua dự bị không quân. Năm 1971, ông được đưa sang Mỹ huấn luyện lái A-37; sau 18 tháng, về nước, phân về Không đoàn Đà Nẵng.

Ở đây, ông nổi tiếng vì hay chống lệnh, vì ông cảm nhận rõ chiến tranh ấy là phi nghĩa.

Cuối tháng 3/1975, khi nghe tin quân giải phóng đã giải phóng Huế và đang tiến như vũ bão, nhiều người tìm đường di tản vào Sài Gòn hoặc ra nước ngoài. Họ cũng khuyên ông đi. Nhưng ông nghĩ:
“Quê tôi còn gia đình. Ra nước ngoài, xứ lạ, biết sống sao? Mà tôi… yêu quê hương mình.”

Ông quyết định ở lại Đà Nẵng, ngày 5/4/1975 ra trình diện, tham gia cải tạo tập trung chờ chiến tranh kết thúc. Và rồi, chính trong giai đoạn ấy, ông được các phi công miền Bắc tin tưởng, mời tham gia huấn luyện A-37, tiến tới bước ngoặt: trở thành một người trong Phi đội Quyết thắng.

Ông nói gọn mà nghe “nổi da gà”:
“Được tham gia Phi đội Quyết thắng là quyết định đúng đắn nhất, tự hào nhất đời tôi.”

Sau chiến thắng: về quê làm ruộng và… một tấm huân chương đi lạc

Sau trận ném bom lịch sử, ông On tiếp tục cùng ông Sanh làm công tác bay huấn luyện phi công mới, rồi tham gia nhiệm vụ ở một số hải đảo. Khi chiến tranh biên giới Tây Nam nổ ra, ông cùng đồng đội làm nhiệm vụ, lập thêm chiến công, buộc Khmer Đỏ phải tháo chạy.

Rồi ông xin ra quân, lặng lẽ về quê Tiền Giang. Ở làng, ít ai biết ông từng là người trong Phi đội Quyết thắng. Ông cùng bà con đào kênh, vét thủy lợi, xả mặn rửa ngọt ruộng đồng. Thấy ông có chữ nghĩa, địa phương vận động đi dạy xóa mù. Từ phi công thành… ông giáo làng, rồi lại về với ruộng, với vai trò lão nông chân lấm tay bùn.

Điều tréo ngoe là: tham gia trận đánh lớn, ông được tặng Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhất, nhưng chính ông không hề biết.

Không có giấy tờ, ông từng trải qua nhiều năm sống trong ánh mắt nghi kỵ và cả sự bêu riếu của người cũ. Khó khăn dồn dập, năm 2005, ông bán vườn lấy lộ phí ra Đà Nẵng tìm lại xác nhận.

Ông kể:
“Lúc đó tôi khổ lắm. Người chỉ có cái áo mỏng, chân mang đôi dép mòn.”

Ông đến Sư đoàn Không quân 372, xin gặp ông Hán Văn Quảng (khi ấy là Sư đoàn trưởng). Gặp lại sau 30 năm, hai người mừng rưng rưng. Ông Quảng gọi điện ra Hà Nội báo cho anh Lục, anh Đễ…, rồi đưa ông ra Bắc gặp lại đồng đội. Hà Nội lạnh, ông run vì áo mỏng, anh Lục cho mượn áo ấm. Những cái bắt tay, những ánh mắt gặp lại nhau—vừa mừng vừa tủi.

Rồi tin vui đến: ông Từ Đễ báo ông On được nhận lại huân chương sau trận ném bom Tân Sơn Nhất. Quân chủng vẫn giữ huân chương và sẽ trao lại.

Ban đầu dự định mời ông lên TPHCM nhận, nhưng ông Từ Đễ không đồng ý:
“Nhận ở địa phương cho bà con biết ông On có công với cách mạng.”

Và thế là tháng 8/2008, tại UBND xã Gò Công, lễ trao huân chương được tổ chức trang trọng trước cán bộ và người dân. Cầm tấm huân chương và bằng khen đã úa màu, ông On xúc động muốn bọc lại mang về. Nhưng một lần nữa, ông Từ Đễ… “chặn nhẹ”:

“Đeo lên ngực. Đi trên con đường rộng nhất, dài nhất về nhà.”

Ông On nghe theo. Hôm ấy, ông đeo huân chương, tay cầm bằng khen, ngồi sau xe máy được đồng đội chở đi dọc con đường làng dài nhất.

Ông nói nhỏ, mà nghe như một câu kết đọng lại rất lâu:
“Từ sau ngày thống nhất đến hôm đó… tôi mới lại có niềm vui lớn đến vậy.”

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn