Bài viết

Từ quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về trí thức đến việc phát huy vai trò của đội ngũ trí thức Việt Nam

Từ quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về trí thức đến việc phát huy vai trò của đội ngũ trí thức Việt Nam

18/08/2026Xã Hàm Yên (Đoàn xã Hàm Yên)3 lượt xem0 lượt chia sẻ
Từ quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về trí thức đến việc phát huy vai trò của đội ngũ trí thức Việt Nam

Một trong những cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh là các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Lịch sử đã chứng tỏ dân tộc Việt Nam ta là một dân tộc có nền văn hiến lâu đời, đã sản sinh ra được rất nhiều bậc hiền tài, đóng góp to lớn vào sự nghiệp dựng nước và giữ nước. Nhất là sau khi giành được độc lập từ phong kiến phương Bắc, với tinh thần tự tôn dân tộc, tự hào nền văn hiến của mình, các triều đại phong kiến Việt Nam sớm coi việc tuyển chọn hiền tài ra giúp nước là một quốc sách. Thời Lý mở trường đại học đầu tiên (Quốc Tử Giám) năm 1076 để đào tạo nhân tài. Thời Trần, năm 1253, vua Trần Thái Tông chuyển nhà Thái Học thành Quốc Học viện, mở rộng cho cả người học giỏi trong dân chúng. Đến triều Lê, khoa cử quy củ, phát triển thịnh trị, Quốc Tử Giám trở thành trung tâm đào tạo nhân tài lớn nhất đất nước. Năm 1484, phụng mệnh vua Lê Thánh Tông, tiến sĩ Thân Nhân Trung soạn bài văn bia “Đề danh tiến sĩ khoa Nhâm Tuất niên hiệu Đại Bảo thứ 3 (1442)”, đưa ra chân lý bất hủ: “Hiền tài là nguyên khí quốc gia, nguyên khí thịnh thì đất nước càng mạnh và càng lớn lao, nguyên khí suy thì thế nước yếu và càng xuống thấp. Bởi vậy các bậc vua tài giỏi đời xưa chẳng có đời nào lại không chăm lo nuôi dưỡng và đào tạo nhân tài bồi đắp nguyên khí”(3). Truyền thống khuyến học, khuyến tài của dân tộc vẫn được tiếp tục giữ gìn và phát triển ở các thế kỷ sau. Thế kỷ XVIII, người anh hùng áo vải, cờ đào Nguyễn Huệ có “chiếu cầu hiền” với những lời thiết tha: “Trẫm thường mong mỏi, lắng nghe và liên tục hỏi những người tài cao, học rộng sao chưa thấy đến? Phải chăng trẫm kém tài, ít đức chẳng đáng phò tá hay sao? Trẫm luôn lo lắng và nghĩ rằng cái nhà to sức một cây cột làm sao chống nổi, sự nghiệp dân an quốc thái sức một người sao có thể đảm đương”(4).

Là anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa kiệt xuất của Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kế thừa và phát triển truyền thống của ông cha lên một tầm cao mới. Ngay từ rất sớm, Người nhận thức rõ vị trí, vai trò của đội ngũ trí thức đối với cuộc cách mạng giải phóng dân tộc. Năm 1923, trong báo cáo gửi Quốc tế cộng sản về tình hình Đông Dương, Người đã đề cập đến tinh thần cách mạng của trí thức: “Thiểu số các nhà nho hay là các nhà trí thức là các nhà cách mạng dân tộc chủ nghĩa. Chính họ đã khích động mọi cuộc nổi dậy trong quá khứ”(5). Điều này giải thích lý do, sau khi về Quảng Châu (Trung Quốc) vào cuối năm 1924, Người tập hợp các thanh niên Việt Nam yêu nước, xuất thân từ học sinh, trí thức, có một vài người là tú tài nho học vào các lớp tập huấn chính trị để truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin và chuẩn bị lực lượng nòng cốt tiến tới thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt và Lời kêu gọi thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (03/2/1930), Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng chỉ rõ vai trò của trí thức đối với sự nghiệp cách mạng, từ đó Người căn dặn: “Đảng phải hết sức liên lạc với tiểu tư sản, trí thức, trung nông, Thanh niên, Tân Việt,…"16'. Với quan điểm “Trí thức là “vốn liếng” quý báu của dân tộc”, trong Chương trình Việt Minh cũng ghi rõ “khuyến khích và giúp đỡ các hạng trí thức được phát triển tài năng của họ”(7).

Với tư cách là người đứng đầu Chính phủ, để tỏ rõ quyết tâm của chính quyền cách mạng trọng dụng nhân tài, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ thị cho các địa phương phải lập tức điều tra nơi nào có người tài đức và phải báo cáo đầy đủ, rõ ràng lên chính phủ tên, tuổi, nghề nghiệp, tài năng, chỗ ở, nguyện vọng của người đó. Với phương pháp đơn giản nhưng cũng đầy sáng tạo, thông qua việc công khai kêu gọi trước toàn dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khơi gợi lên ý thức tự tôn, lòng tự hào dân tộc, và tinh thần trách nhiệm của mỗi cá nhân, đặc biệt mỗi trí thức, mỗi người tài vì độc lập, vì tự do của tổ quốc.

Trước những khó khăn của thực tế và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội đầy chông gai thử thách, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh rằng: Để xây dựng chủ nghĩa xã hội thì cần phải có “lao động trí óc và lao động chân tay”. Tuy nhiên, trong điều kiện cụ thể của nước nhà, Người nêu rõ: Chúng ta cần “lao động trí óc kiêm lao động chân tay, nghĩa là lao động chân tay cũng phải có văn hóa, mà người lao động trí óc cũng phải làm được lao động chân tay. Nếu lao động trí óc không làm được lao động chân tay và lao động chân tay không có trí óc thì đó là người lao động bán thân bất toại”(8). Ngược lại, Người cũng khẳng định rằng: Lao động trí óc mà không có lao động chân tay, “chỉ biết lý luận mà không biết thực hành” thì cũng chỉ là “trí thức một nửa”. Từ đó, Người xác định việc bồi dưỡng, đào tạo và sử dụng đội ngũ trí thức, nhân tài là vấn đề hàng đầu, là nền tảng, quyết định sự thành bại của cách mạng. Đồng thời, phải tạo điều kiện để những trí thức xã hội chủ nghĩa phát huy mọi khả năng của mình trên mọi lĩnh vực. Nói chuyện tại lớp nghiên cứu chính trị khóa I, trường Đại học nhân dân Việt Nam, ngày 21/7/1956, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu: “Đảng và Chính phủ phải giúp bằng cách giáo dục, để trí thức có lập trường vững vàng, quan điểm đúng đắn, tư tưởng sáng suốt, tác phong dân chủ. Nói tóm lại: giúp đỡ các bạn trí thức chính tâm và thân dân”. Về phương pháp giáo dục đối với trí thức, theo Người, đó là “nguyên tắc tự nguyện tự giác, giải thích, bàn bạc, thuyết phục, chứ không gò bó. Giúp trí thức thi đua trong học tập và công tác. Hướng dẫn trí thức sử dụng cách thật thà tự phê bình và thành khẩn phê bình để cùng nhau tiến bộ không ngừng, đoàn kết chặt chẽ, để phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân”(9).

Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về vai trò và phát huy vai trò của đội ngũ trí thức yêu nước đã có tác dụng to lớn trong việc động viên sức mạnh và trí tuệ toàn dân, góp phần quan trọng vào thắng lợi của cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và cách mạng xã hội chủ nghĩa; đồng thời, giúp cho người trí thức hiểu rõ về vị trí và khả năng cách mạng của họ, từ đó, sẵn sàng hiến dâng cho Tổ quốc, cho nhân dân. Hòa vào sự nghiệp cách mạng vĩ đại của dân tộc, đội ngũ trí thức đã nhanh chóng trưởng thành và có những đóng góp xứng đáng. Trong số đó có thể kể ra những tấm gương tiêu biểu như Huỳnh Thúc Kháng, Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Văn Huyên, Trần Đại Nghĩa, Đặng Văn Ngữ, Trần Hữu Tước, Lương Định Của, Hoàng Minh Giám, Vũ Đình Tụng, Tạ Quang Bửu, Tôn Thất Tùng, Huỳnh Văn Tiểng, Lưu Hữu Phước, Hoàng Việt, Nguyễn Hữu Thọ, Huỳnh Tấn Phát, Phạm Ngọc Thạch, Kha Vạn Cân, Cù Huy Cận, Nguyễn Đình Thi, Trần Duy Hưng, Nguyễn Khánh Toàn, Hồ Đắc Di,…

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn