Từ Quảng Trị Lửa Đạn Đến Mũi Cà Mau – Dấu Chân Người Lính Lê Khắc Toại
Ông Lê Khắc Toại (1945) là người lính trưởng thành từ vùng quê làng Sao, Bình Lương, Như Xuân, nhập ngũ năm 1966, chiến đấu trong đội hình E56 – F324. Ông đã đi qua những chiến trường khốc liệt nhất từ Quảng Trị 81 ngày đêm lửa đạn, Huế, Nam Lào cho đến mũi Cà Mau, chịu đựng đói khát, gian khổ và chứng kiến nhiều đồng đội hy sinh. Giữa bom đạn, ông vinh dự được kết nạp vào Đảng, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ và phục viên năm 1973, được Nhà nước trao Huân chương Giải phóng hạng Ba, Huân chương
🌼Từ Quảng Trị Lửa Đạn Đến Mũi Cà Mau – Dấu Chân Người Lính Lê Khắc Toại - Câu chuyện thời hoa lửa🥰
Ông Lê Khắc Toại, sinh năm 1945, sinh ra và lớn lên tại làng Sao, xã Bình Lương, huyện Như Xuân (cũ). Từ thuở nhỏ, ông đã nổi tiếng là người chăm chỉ, học hành khá giỏi, sớm mang trong mình tinh thần yêu nước và ý chí vươn lên giữa những năm tháng đất nước còn nhiều gian khó.
Tháng 8 năm 1966, khi vừa tròn đôi mươi, ông nhận lệnh gọi nhập ngũ đi B ngắn ngày, biên chế vào Tiểu đội 4, Trung đội 2, Đại đội 2, Trung đoàn 56, Sư đoàn 324 (E56, F324). Từ đây, cuộc đời người thanh niên làng quê bước sang một chặng đường hoàn toàn khác – chặng đường của bom đạn, hy sinh và thử thách.
Từ năm 1968 đến 1971, ông cùng đồng đội hành quân chiến đấu vào Huế, sang chiến trường Nam Lào, sau đó tiếp tục hành quân vào tận Cà Mau, đi đến những điểm cuối cùng của Tổ quốc. Ông đã tham gia nhiều trận đánh ác liệt. Dù gian khổ kéo dài, hiểm nguy luôn rình rập, ông vẫn kiên cường bám trụ, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.
Giữa bom đạn, ông mang trong mình cơn đau âm ỉ của viêm dạ dày hành tá tràng vì những bữa ăn vội vàng, thiếu thốn, và những đêm trắng căng thẳng nơi chiến hào. Tai ông nhiều lần nhức buốt vì viêm tai giữa mãn tính, nhưng tiếng pháo, tiếng súng vẫn át đi tất cả, buộc ông phải gắng gượng mà bước tiếp. Cơn đau kéo dài khiến ông không chịu nổi phải nhập viện 43 và chuyển theo đường chuyển thương tới các viện 41,44,48 và viện 4. ông được ra viện ngày 10/01/1972. Trong hoàn cảnh khắc nghiệt của chiến tranh, bệnh tật không làm người lính lùi bước, mà chỉ càng khắc sâu thêm sự hy sinh thầm lặng và ý chí bền bỉ của những con người đã sống, chiến đấu và chịu đựng vì Tổ quốc.
Năm 1972 sau khi khỏi bệnh, Ông trực tiếp tham gia chiến trường Quảng Trị , nơi được mệnh danh là “tọa độ lửa” của cả nước. 81 ngày đêm chiến đấu khốc liệt, đất trời rung chuyển bởi bom pháo, đồng đội ngã xuống ngay bên cạnh. Trong gian khổ tột cùng, bộ đội phải ăn thiếu, uống thiếu, bữa cơm nhiều khi chỉ là nắm gạo độn sắn, chia nhau từng ngụm nước giữa chiến hào. Nhưng chính trong hoàn cảnh ấy, ý chí và tình đồng đội càng thêm bền chặt, trở thành điểm tựa để tất cả cùng đứng vững.
Với quá trình rèn luyện, cống hiến không ngừng, ngày 30/7/1969, ông vinh dự được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam tại Chi bộ C1, PTC – B5, và đến 30/4/1970 thì trở thành đảng viên chính thức. Đây là dấu mốc thiêng liêng, thể hiện sự trưởng thành cả về bản lĩnh, tư tưởng và trách nhiệm của người lính nơi chiến trường.
Năm 1972, giữa bom đạn và những ngày hành quân không ngơi nghỉ, ông lập gia đình – một niềm hạnh phúc giản dị nhưng vô cùng quý giá trong thời chiến.
Đến năm 1973, ông phục viên trở về địa phương, khép lại những năm tháng quân ngũ đầy gian lao nhưng rất đỗi tự hào. Với những đóng góp và hy sinh cho sự nghiệp cách mạng, Nhà nước đã trao tặng ông Huân chương Giải phóng hạng Ba, Huân chương Kháng chiến hạng Ba cùng một niên hạn – sự ghi nhận xứng đáng cho cả một quãng đời cống hiến.
Giờ đây, khi nhắc lại những năm tháng ấy, đó không chỉ là ký ức về bom đạn và mất mát, mà còn là niềm tự hào của một thế hệ đã sống, chiến đấu và hy sinh vì độc lập – tự do của Tổ quốc.


