Khác

Từ Sở Công an Bắc Bộ ra đi

Tác giả Lê Tuấn, tên thật là Phạm Thuỵ Uông, sinh năm 1924 tại Hà Nội, tham gia phong trào Thanh niên Phản đế từ năm 1940, hoạt động ở nội thành Hà Nội cho đến ngày Cách mạng tháng Tám thành công. Ngay sau ngày giành chính quyền ở Thủ đô, tháng 9-1945 ông chỉ huy một đơn vị giải phóng quân sang Lào, chiến đấu dọc dải vùng Thượng Lào, giúp nước bạn giành chính quyền từ tay thực dân Pháp. Đó là đoàn quân Tây Tiến đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam, sau này được nhắc đến rất nhiều trong sử sác

07/03/2026Ban Biên tập tổng hợp2 lượt xem0 lượt chia sẻ
1. Đi làm cách mạng

Ông nội tôi là Phạm Văn Toán, tướng của Quận công, phò mã, thống chế Hoàng Kế Viêm. Dưới thời vua Tự Đức, vào những năm 1867-1870, phong trào Thái Bình Thiên Quốc ở Trung Hoa, dưới chiêu bài "phản Thanh, phục Minh", đã chiếm được một phần phía Nam Trung Hoa, nhưng sau đó lại bị quân nhà Thanh tiêu diệt. Tàn quân của Lưu Côn, một tướng của Thái Bình Thiên Quốc, chạy dạt sang Việt Nam chiếm cứ vùng biên giới nước ta.


Ông Ích Khiêm đem quân đánh giặc Lưu Côn ở biên giới Cao Bằng - Lạng Sơn, gần một năm trời mới dẹp yên bọn giặc phỉ này. Nhưng dư đáng của chúng còn sống sót liền chia ra làm ba đạo quân: Lưu Vĩnh Phúc - quân Cờ Đen; Hoàng Sùng Anh - quân Cờ Vàng; Lương Văn Lợi - quân Cờ Trắng, cát cứ từng vùng của nước ta để cướp bóc nhân dân ta.


Thừa lệnh thống chế Hoàng Kế Viêm, năm 1885, ông nội tôi đang làm bang biện, tỉnh vụ Sơn Tây đem quân dẹp tan bọn Cờ Vàng Hoàng Sùng Anh ở đồn Vàng, bên bờ sông Hồng chạy qua địa phận Sơn Tủy. Năm 1888, ông tôi được cử làm tán tương quân vụ dẹp giặc Lưu Vĩnh Phúc Cờ Đen vì lúc này chúng đang hoành hành ở vùng Quốc Oai - Sài Sơn. Ông tôi đã thuyết phục Lưu Vĩnh Phúc về hàng. Cũng trong thời gian này, thực dân Pháp đánh chiếm xong Hà Nội, muốn mở rộng chiếm đóng các tỉnh ở Bắc Kỳ. Ông tôi đã điều động quân Cờ Đen phối hợp cùng với quân của triều đình bố trí chặn đánh quàn Pháp ở cửa ngõ thành Thăng Long, tại vùng Cầu Giấy, giết chết tên Henri Rivière, sau đó lại phục kích đánh quân tiếp viện của thực dân Pháp ở vùng Đê La Thành, giết chết tên Francis Garnier.


Sau khi phối hợp cùng với quân Việt Nam đánh giặc thắng lợi, Lưu Vĩnh Phúc sinh kiêu ngạo, tự tiện đem quân cướp bóc, hãm hiếp nhân dân ở những nơi chúng đóng quân, buộc lòng ông tôi lại phải đem quân tiêu diệt Lưu Vĩnh Phúc. Tên Lương Văn Lợi, giặc Cờ Trắng hoành hành vùng Lào Cai, Hà Giang, Tuyên Quang, Thái Nguyên... cũng bị quân của triều đình dẹp tan.


Năm 1908, ông tôi làm tổng đốc Nam Định, hàm Thượng thư, được triều đình Huế phong Hiệp tá Đại học sĩ. Đến năm 1909 lại được phong hàm Thái tử Thái bảo, phẩm hàm cao nhất của triều đình, ngang cùng với phẩm hàm của Quận công, phò mã Hoàng Kế Viêm1 (Hiện nay ông tôi còn có văn bia và ảnh thờ ở đền Mây (Đằng Châu Tư) tại thị xã Hưng Yên; ở đền Thiên Trường, đển Cổ Lễ tại Nam Định cũng có hoành phi, câu đối, ngài thờ bài vị ông tôi).


Năm 1911 ông tôi về hưu tại quê làng Láng, gia sản cũng chỉ có ngôi nhà gỗ 5 gian và một mảnh vườn, ruộng nương không có lấy một sào. Năm 1912, ông tôi mất, thọ 69 tuổi.

Bố tôi là con cả, hai lần thi Hương chi đỗ đến cử nhân. Khi triều đình bãi bỏ thi Hương, bố tôi được vào học ở trường Hậu bổ (sau này bổ ra làm quan). Trường Hậu bổ là trường Hàm Long cũ, nay là trường Ngô Sĩ Liên.

Khi bố tôi ra trường, thực dân Pháp vẫn có định kiến về ông nội tôi đã một thời đem quân chống lại chúng, nên khi thôi học, ông chỉ được bổ làm chức quan nhỏ hết chuyển từ huyện này đến phủ khác, không ở đâu lâu quá 3 năm. Đến ngày cách mạng tháng Tám thì lại chính anh thứ tư của tôi đi đầu phong trào Việt Minh, cầm cờ vào chiếm phủ lỵ. Gia đình bố tôi được Ủy ban cách mạng bố trí đưa về quê sinh sống lại làng Láng Trung.


Cũng từ truyền thống chống thực dân Pháp từ đời ông nội, nhưng đến bố chỉ là một lãn quan, không chịu hoạt động gì nên đến năm 1940, lúc tôi vừa tròn 16 tuổi đã theo anh ruột tham gia phong trào Thanh niên Phản đế.

Thi đỗ bằng Sơ học yếu lược (Certificat), đang chuẩn bị thi vào Thành chung, thì anh thứ ba tôi bảo: "Em đã giỏi tiếng Pháp rồi, bây giờ phải học thêm tiếng Anh ở hệ Secondaire mà nên học ở trường Thăng Long, vì anh có quen nhiều người bạn học ở đấy và trường Thăng Long cũng có nhiều thầiy giáo giỏi lắm!"

Tôi biết vậy, vì việc học hành đều do các anh lớn. Thế là tôi vào học ở trường Thăng Long mà không theo học trường công nữa.

Năm 1938, nhân dịp ngày lễ 1-5, anh tôi đưa tôi đến dự hội chợ ở nhà đấu xảo Louis Finot1 (Tên một viên công sứ Pháp cai trị Đông Dương) (Cung văn hoá Hữu nghị bây giờ). Đến nơi tôi mới biết là các anh tổ chức cuộc mít tinh lớn để vạch trần thái độ áp bức của đế quốc Pháp. Từ hôm đó tôi mới biết anh tôi đã là người của cách mạng theo Đảng Cộng sản.


Năm 1940, tôi đã học hết lớp 3ème secondaire thì anh tôi bảo: "Em có muốn vào đoàn Thanh niên Phản đế không?" Tôi không hiểu Thanh niên Phản đế là gì nên hỏi lại anh thì được anh giải thích: "Thanh niên Phản đế là thanh niên phản đối, chống lại đế quốc Pháp". Anh nói như vậy, tôi hiểu ngay và vui mừng xin được gia nhập đoàn thể đó. Sau một thời gian thử thách anh giao cho tôi đưa các thư tay đến một số bạn bè của anh như anh Luyến (Dân) ở phố René Daurelle (Nguyễn Bỉnh Khiêm bây giờ), anh An tức Đoàn ở Làng Mọc, anh Hội v.v... Anh thứ ba tôi lúc này đi làm hiệu thính viên của đài thu, phát tin tức của Pháp đặt ở gác hai phía sau Nhà hát lớn. Cùng làm với anh có anh Nghiệp, người nhỏ nhắn, chân đi khập khiễng. Anh Nghiệp hay đến nhà tôi chơi nên quen biết tất cả các anh chị em tôi. (Sau này anh Nghiệp lấy bí danh là Xuân Trường làm bí thư tỉnh ủy Hà Đông, rồi thứ trưởng Bộ Nông nghiệp). Tôi được các anh tin cậy nên thường đến tận nhà của các anh đưa thư mà không cần phải qua nơi hẹn bí mật.


Đầu năm 1941, anh tôi giới thiệu tôi với anh Ngô Duy Cáo cũng đang học ở trường Thăng Long để anh kết nạp tôi vào tổ Thanh niên Phản đế trường, do anh làm tổ trưởng.

Thời gian này, hoạt động cách mạng chủ yếu chỉ là tuyên truyền và kết nạp người vào tổ chức. Anh Cảo bảo tôi chọn trong số những bạn học thật thân ở trường, nếu thấy họ có xu hướng chống Pháp thì tổ chức họ vào hoạt động cách mạng.

Logged

saoden

Thành viên
*
Bài viết: 1079


Từ Sở Công an Bắc Bộ ra đi« Trả lời #2 vào lúc: 20 Tháng Sáu, 2022, 06:42:25 am »
Trong năm 1941, tôi đã tuyên truyền được anh Nguyễn Văn Quế, cùng học một lớp, cùng ngồi một bàn với tôi. Anh Quế là con ông tổng Mai, quê ở Nam Sách, Hải Dương, đang trọ học ở nhà hộ sinh Con Rồng số 129 Henri d'Orléans (Phùng Hưng bây giờ). Tôi cũng tổ chức anh Nguyễn Thanh là cháu bà đồng Tài ở đền 52 Takou (Hàng Cót). Tôi báo cáo với anh Cảo và được anh đồng ý để tôi thành lập riêng một tổ Thanh niên Phản đế. Sau đó đến cuối năm 1941, Thanh niên Phản Đế đổi thành Thanh niên Cứu quốc, trong mật trận Việt Minh. Các anh Quế và anh Thanh cũng đã tuyên truyền được một số bạn thân có tinh thần chống Pháp. Anh Quế đã kết nạp anh Lê Tất Thành, là con trai bà chủ nhà Hộ sinh Con Rồng và là em ruột chị Lê Tuỵ Phương, một cơ sở hoạt động tài chính của anh Cả Sao Đỏ (Nguyễn Lương Bằng), anh Linh ở phố Colomb (Phan Bội Châu), anh Savanakhet, cũng cùng học một lớp với tôi và anh Quế. Anh Savanakhet có tên Lào vì bố anh là ông Phạm Văn Luận làm việc ở Sở Dây thép (Bưu điện) tại tỉnh Savanakhet và lấy vợ là người Lào nên sinh ra anh, đặt tên anh theo tỉnh là nơi ông làm việc.


Anh Nguyễn Thanh cũng kết nạp thêm được anh Đồng, anh Khang lập thành một tổ riêng.

Ngày 19-11-1942, anh thứ ba tôi ăn cơm tối xong liền gọi tôi ra bảo: "Tối nay anh đi rải truyền đơn kỷ niệm 25 năm nước Nga làm cách mạng thành công!" Tôi xin anh cho đi cùng nhưng anh bảo: "Tuấn ở nhà. Tối nay nguy hiểm đấy, vì bọn mật thám cũng đề phòng nhân ngày kỷ niệm Cách mạng tháng 10 Nga, chúng bố trí mật thám tuần tra dày đặc khắp đường phố Hà Nội... Nếu đến sáng mà anh chưa về thì em phải đến báo ngay cho anh Luyến, anh Hội biết để các anh đối phó cho kịp!"


Cả tối hôm ấy, tôi cứ phấp phỏng không ngủ được chờ nghe anh tôi về gọi cửa là dậy mở ngay. Nhưng mãi đến 4-5 giờ sáng, anh tôi vẫn không về, tôi biết ngay là đã xảy ra chuyện không may cho anh rồi, liền chờ sáng hẳn, chạy vội đến báo cho anh Luyến ở phố René Daurelle để anh cũng báo tin cho một số các anh khác biết. Đến hơn 10 giờ thì mật thám dẫn anh tôi về nhà, máu me đầy người, để chúng khám xét tìm tài liệu bí mật. Nhưng vì tôi đã biết trước nên đã chuyển hết tài liệu bí mật của anh tôi để lại đến gửi nhờ những cơ sở khác trong mấy tổ Việt Minh của tôi. Sau này tôi được biết, mật thám bắt được anh An (Đoàn) sau đó chúng bắt anh Doanh tôi, rồi anh Luyến. Các anh trong ban cán sự Thành đều sa vào tay địch. Mật thám truy quét bắt tiếp anh Nghiệp, rồi đến em con chú ruột tôi là Phạm Khắc Minh (tức Nguyễn Quốc Hồng, sau này là phó Viện trưởng Viện Kiểm sát tối cao) cho mãi đến tháng 3 1943 mới tạm dứt. Trong đợt truy lùng này, các cán sự Thành Đảng bộ đều bị bắt, duy có anh Vũ Quý là bí thư ban cán sự Thành thoát khỏi tay địch. Sau này anh Vũ Quý bị nghi là AB (Anti Bolchévich) nên bị điều đi nơi khác.


Các anh bị bắt đều do toà án binh ở phố Maréchal Joffre (Lý Nam Đế) xét xử. Anh tôi bị kết án 20 năm tù và bị đày đi Côn Đảo. Anh Nghiệp và Phạm Khắc Minh bị mỗi người 1 năm tù, giam ở nhà giam Hoả Lò, đến đầu năm 1944 mới được tha.


Lúc bấy giờ tôi mới 16 tuổi nên mật thám không nghi ngờ, nhưng bố tôi vẫn sợ liền bắt tôi về phủ Thuận Thành để tránh địch khủng bố. Nhưng chỉ sau 6-7 tháng kể từ tháng 11-1942, tôi thấy yên ổn nên lại xin phép bố ra Hà Nội học. Khi đến trường Thăng Long, tôi đã không còn liên lạc được với anh Ngô Duy Cảo vì anh cũng bị động nên đã về quê Thái Bình hoạt động cho đến ngày cách mạng tháng Tám. Tôi ra Hà Nội liền tìm đến nhà cô em họ là Ngô Thị Minh Tâm (tức Tuyết Minh, một nhân chứng lịch sử được nhiều cơ quan, đoàn thể biết). Cô em tôi không bị gì, chỉ bị một phen hoảng sợ. Tôi đến lấy lại một va li tài liệu bí mật để đem về tiếp lục hoạt động gây nhân mối mới. Tôi bắt liên lạc lại với anh Quế, anh Thanh để duy trì hoạt động cách mạng và tổ chức thêm người mới thành lập thêm các tổ Việt Minh khác. Qua cô Tuyết Minh, tôi đã liên lạc được với chị Phú (tức Hảo, sau là chuyên viên trường Nguyễn Ái Quốc), chị Tâm Khanh (tức Đinh Thị Yên, sau là Vụ trưởng của Bộ Nội vụ cũ), chị Liên (tức Hà Hoa, tức Hoàng Lê Vân, chuyên viên của Báo Nhân dân) chị Lê Thi (Dương Thị Thoa, giáo sư triết học).


Lúc này, địch khủng bố trắng, tôi mất hết liên lạc với các anh, nhưng cứ lặng lẽ hoạt động, duy trì sinh hoạt với tổ anh Quế, anh Thanh, Tuyết Minh, vì tôi vẫn giữ được nhiều tài liệu bí mật. Trong năm 1943, địch lập ra tổ chức Thanh niên khỏe Ducouroy, một hình thức cũng như Hướng Đạo Sinh, nhưng chủ yếu là để chúng tuyển người làm tay sai cho chúng sau khi đã cho họ đi học hai lớp ESEPIC và ELSEJIC - học về thể thao và lý thuyết huấn luyện. Tôi không còn liên lạc được với cấp trên, tuy vẫn đi học, nhưng vì không có chỉ đạo của thượng cấp nên cứ âm thầm hoạt động một mình. Tôi thấy địch lập ra tổ chức Jeune équype du Tonkin, tôi nghĩ không thể để cho chúng mua chuộc thanh niên mình được. Cân nhắc mãi tôi đến gặp anh Nguyễn Huy Khôi (tức Khôi Kingkong) và anh Đinh Nữu để xin gia nhập tổ chức này. Anh Khôi giới thiệu tôi với tên Fleutot Em đang phụ trách huấn luyện thể thao cho đội Jeune équypc. Tôi biết lên Fleutot Anh là mật thám cho Pháp và hai anh em đều là Tây lai. Tôi được chúng cử ngay làm xếp Jeune équype du Tonkin, có toàn quyền kết nạp đội viên, thành lập các đội theo như tổ chức của Hướng Đạo Sinh mà trước kia tôi đã làm đến Tráng sinh (Routier) do anh họ tôi là Ngô Bích San và anh Hoàng Đạo Thuý thành lập. Tôi đã lợi dùng hình thức đưa anh em đi cắm trại ở những nơi danh lam thắng cảnh và có ý nghĩa lịch sử để tuyên truyền khêu gợi lòng yêu nước.


Ngay trong năm 1943, tôi đã tuyên truyền và kết nạp được anh Ngô Tất Oánh ở xóm chùa Từ Ân - chợ Hôm (sau này là đại tá Thanh Quang, ban chỉ huy quân sự Hà Sơn Bình). Trong các đội Thanh niên Bắc Kỳ, tôi cũng đã tuyên truyền, tổ chức thêm được anh Wan Fooc Thoòng (tức Nguyễn Đường, chủ nhiệm Ty Văn hoá Cao Bằng), anh Bân con trai bà chủ cửa hàng bán vàng giả Mie Ky (Mỹ Ký), anh Chu Quang Hùng, anh Bảo Toàn, anh Chính, anh Đức, anh Ngọc, anh Vinh, anh Tiết, anh Diệp. Sau này các anh đều là cán bộ lãnh đạo của cơ quan kháng chiến và là quân tình nguyện Nam tiến đợt đầu tiên, như anh Chu Quang Hùng, anh Ba v.v...


Đầu năm 1944, anh Nghiệp được ra tù, đến tìm gặp tôi hỏi đã bắt liên lạc được với người của Đảng chưa, tôi nói cho anh biết là vẫn chưa bắt được liên lạc với ai, nhưng tuy vậy tôi vẫn âm thầm tổ chức thêm được 6 tổ hoạt động bí mật (6 tổ là tổ anh Quế, tổ anh Thanh, tổ anh Oánh, tổ Tuyết Minh, tổ anh Đường và tổ anh Bân). Anh Nghiệp khen tôi kiên trì hoạt động và anh bảo: "Anh sẽ giới thiệu Tuấn với một trong ba anh là Lê Quang Đạo (tức Nguyện) anh Nguyễn Khang (tức Đệ) và anh Đặng Kim Giang đến bắt liên lạc với Tuấn, còn anh đã được anh Lê Quang Đạo điều về Bắc Ninh làm háo Cứu quốc bí mật".

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn