1. Đi làm cách mạng
Ông nội tôi là Phạm Văn Toán, tướng của Quận công, phò mã, thống chế Hoàng Kế Viêm. Dưới thời vua Tự Đức, vào những năm 1867-1870, phong trào Thái Bình Thiên Quốc ở Trung Hoa, dưới chiêu bài "phản Thanh, phục Minh", đã chiếm được một phần phía Nam Trung Hoa, nhưng sau đó lại bị quân nhà Thanh tiêu diệt. Tàn quân của Lưu Côn, một tướng của Thái Bình Thiên Quốc, chạy dạt sang Việt Nam chiếm cứ vùng biên giới nước ta.
Ông Ích Khiêm đem quân đánh giặc Lưu Côn ở biên giới Cao Bằng - Lạng Sơn, gần một năm trời mới dẹp yên bọn giặc phỉ này. Nhưng dư đáng của chúng còn sống sót liền chia ra làm ba đạo quân: Lưu Vĩnh Phúc - quân Cờ Đen; Hoàng Sùng Anh - quân Cờ Vàng; Lương Văn Lợi - quân Cờ Trắng, cát cứ từng vùng của nước ta để cướp bóc nhân dân ta.
Thừa lệnh thống chế Hoàng Kế Viêm, năm 1885, ông nội tôi đang làm bang biện, tỉnh vụ Sơn Tây đem quân dẹp tan bọn Cờ Vàng Hoàng Sùng Anh ở đồn Vàng, bên bờ sông Hồng chạy qua địa phận Sơn Tủy. Năm 1888, ông tôi được cử làm tán tương quân vụ dẹp giặc Lưu Vĩnh Phúc Cờ Đen vì lúc này chúng đang hoành hành ở vùng Quốc Oai - Sài Sơn. Ông tôi đã thuyết phục Lưu Vĩnh Phúc về hàng. Cũng trong thời gian này, thực dân Pháp đánh chiếm xong Hà Nội, muốn mở rộng chiếm đóng các tỉnh ở Bắc Kỳ. Ông tôi đã điều động quân Cờ Đen phối hợp cùng với quân của triều đình bố trí chặn đánh quàn Pháp ở cửa ngõ thành Thăng Long, tại vùng Cầu Giấy, giết chết tên Henri Rivière, sau đó lại phục kích đánh quân tiếp viện của thực dân Pháp ở vùng Đê La Thành, giết chết tên Francis Garnier.
Sau khi phối hợp cùng với quân Việt Nam đánh giặc thắng lợi, Lưu Vĩnh Phúc sinh kiêu ngạo, tự tiện đem quân cướp bóc, hãm hiếp nhân dân ở những nơi chúng đóng quân, buộc lòng ông tôi lại phải đem quân tiêu diệt Lưu Vĩnh Phúc. Tên Lương Văn Lợi, giặc Cờ Trắng hoành hành vùng Lào Cai, Hà Giang, Tuyên Quang, Thái Nguyên... cũng bị quân của triều đình dẹp tan.
Năm 1908, ông tôi làm tổng đốc Nam Định, hàm Thượng thư, được triều đình Huế phong Hiệp tá Đại học sĩ. Đến năm 1909 lại được phong hàm Thái tử Thái bảo, phẩm hàm cao nhất của triều đình, ngang cùng với phẩm hàm của Quận công, phò mã Hoàng Kế Viêm1 (Hiện nay ông tôi còn có văn bia và ảnh thờ ở đền Mây (Đằng Châu Tư) tại thị xã Hưng Yên; ở đền Thiên Trường, đển Cổ Lễ tại Nam Định cũng có hoành phi, câu đối, ngài thờ bài vị ông tôi).
Năm 1911 ông tôi về hưu tại quê làng Láng, gia sản cũng chỉ có ngôi nhà gỗ 5 gian và một mảnh vườn, ruộng nương không có lấy một sào. Năm 1912, ông tôi mất, thọ 69 tuổi.
Bố tôi là con cả, hai lần thi Hương chi đỗ đến cử nhân. Khi triều đình bãi bỏ thi Hương, bố tôi được vào học ở trường Hậu bổ (sau này bổ ra làm quan). Trường Hậu bổ là trường Hàm Long cũ, nay là trường Ngô Sĩ Liên.
Khi bố tôi ra trường, thực dân Pháp vẫn có định kiến về ông nội tôi đã một thời đem quân chống lại chúng, nên khi thôi học, ông chỉ được bổ làm chức quan nhỏ hết chuyển từ huyện này đến phủ khác, không ở đâu lâu quá 3 năm. Đến ngày cách mạng tháng Tám thì lại chính anh thứ tư của tôi đi đầu phong trào Việt Minh, cầm cờ vào chiếm phủ lỵ. Gia đình bố tôi được Ủy ban cách mạng bố trí đưa về quê sinh sống lại làng Láng Trung.
Cũng từ truyền thống chống thực dân Pháp từ đời ông nội, nhưng đến bố chỉ là một lãn quan, không chịu hoạt động gì nên đến năm 1940, lúc tôi vừa tròn 16 tuổi đã theo anh ruột tham gia phong trào Thanh niên Phản đế.
Thi đỗ bằng Sơ học yếu lược (Certificat), đang chuẩn bị thi vào Thành chung, thì anh thứ ba tôi bảo: "Em đã giỏi tiếng Pháp rồi, bây giờ phải học thêm tiếng Anh ở hệ Secondaire mà nên học ở trường Thăng Long, vì anh có quen nhiều người bạn học ở đấy và trường Thăng Long cũng có nhiều thầiy giáo giỏi lắm!"
Tôi biết vậy, vì việc học hành đều do các anh lớn. Thế là tôi vào học ở trường Thăng Long mà không theo học trường công nữa.
Năm 1938, nhân dịp ngày lễ 1-5, anh tôi đưa tôi đến dự hội chợ ở nhà đấu xảo Louis Finot1 (Tên một viên công sứ Pháp cai trị Đông Dương) (Cung văn hoá Hữu nghị bây giờ). Đến nơi tôi mới biết là các anh tổ chức cuộc mít tinh lớn để vạch trần thái độ áp bức của đế quốc Pháp. Từ hôm đó tôi mới biết anh tôi đã là người của cách mạng theo Đảng Cộng sản.
Năm 1940, tôi đã học hết lớp 3ème secondaire thì anh tôi bảo: "Em có muốn vào đoàn Thanh niên Phản đế không?" Tôi không hiểu Thanh niên Phản đế là gì nên hỏi lại anh thì được anh giải thích: "Thanh niên Phản đế là thanh niên phản đối, chống lại đế quốc Pháp". Anh nói như vậy, tôi hiểu ngay và vui mừng xin được gia nhập đoàn thể đó. Sau một thời gian thử thách anh giao cho tôi đưa các thư tay đến một số bạn bè của anh như anh Luyến (Dân) ở phố René Daurelle (Nguyễn Bỉnh Khiêm bây giờ), anh An tức Đoàn ở Làng Mọc, anh Hội v.v... Anh thứ ba tôi lúc này đi làm hiệu thính viên của đài thu, phát tin tức của Pháp đặt ở gác hai phía sau Nhà hát lớn. Cùng làm với anh có anh Nghiệp, người nhỏ nhắn, chân đi khập khiễng. Anh Nghiệp hay đến nhà tôi chơi nên quen biết tất cả các anh chị em tôi. (Sau này anh Nghiệp lấy bí danh là Xuân Trường làm bí thư tỉnh ủy Hà Đông, rồi thứ trưởng Bộ Nông nghiệp). Tôi được các anh tin cậy nên thường đến tận nhà của các anh đưa thư mà không cần phải qua nơi hẹn bí mật.
Đầu năm 1941, anh tôi giới thiệu tôi với anh Ngô Duy Cáo cũng đang học ở trường Thăng Long để anh kết nạp tôi vào tổ Thanh niên Phản đế trường, do anh làm tổ trưởng.
Thời gian này, hoạt động cách mạng chủ yếu chỉ là tuyên truyền và kết nạp người vào tổ chức. Anh Cảo bảo tôi chọn trong số những bạn học thật thân ở trường, nếu thấy họ có xu hướng chống Pháp thì tổ chức họ vào hoạt động cách mạng. | |
Logged
|
|
|
|
saoden Thành viên  Bài viết: 1096  | 
| Từ Sở Công an Bắc Bộ ra đi« Trả lời #2 vào lúc: 20 Tháng Sáu, 2022, 06:42:25 am » | Trong năm 1941, tôi đã tuyên truyền được anh Nguyễn Văn Quế, cùng học một lớp, cùng ngồi một bàn với tôi. Anh Quế là con ông tổng Mai, quê ở Nam Sách, Hải Dương, đang trọ học ở nhà hộ sinh Con Rồng số 129 Henri d'Orléans (Phùng Hưng bây giờ). Tôi cũng tổ chức anh Nguyễn Thanh là cháu bà đồng Tài ở đền 52 Takou (Hàng Cót). Tôi báo cáo với anh Cảo và được anh đồng ý để tôi thành lập riêng một tổ Thanh niên Phản đế. Sau đó đến cuối năm 1941, Thanh niên Phản Đế đổi thành Thanh niên Cứu quốc, trong mật trận Việt Minh. Các anh Quế và anh Thanh cũng đã tuyên truyền được một số bạn thân có tinh thần chống Pháp. Anh Quế đã kết nạp anh Lê Tất Thành, là con trai bà chủ nhà Hộ sinh Con Rồng và là em ruột chị Lê Tuỵ Phương, một cơ sở hoạt động tài chính của anh Cả Sao Đỏ (Nguyễn Lương Bằng), anh Linh ở phố Colomb (Phan Bội Châu), anh Savanakhet, cũng cùng học một lớp với tôi và anh Quế. Anh Savanakhet có tên Lào vì bố anh là ông Phạm Văn Luận làm việc ở Sở Dây thép (Bưu điện) tại tỉnh Savanakhet và lấy vợ là người Lào nên sinh ra anh, đặt tên anh theo tỉnh là nơi ông làm việc.
Anh Nguyễn Thanh cũng kết nạp thêm được anh Đồng, anh Khang lập thành một tổ riêng.
Ngày 19-11-1942, anh thứ ba tôi ăn cơm tối xong liền gọi tôi ra bảo: "Tối nay anh đi rải truyền đơn kỷ niệm 25 năm nước Nga làm cách mạng thành công!" Tôi xin anh cho đi cùng nhưng anh bảo: "Tuấn ở nhà. Tối nay nguy hiểm đấy, vì bọn mật thám cũng đề phòng nhân ngày kỷ niệm Cách mạng tháng 10 Nga, chúng bố trí mật thám tuần tra dày đặc khắp đường phố Hà Nội... Nếu đến sáng mà anh chưa về thì em phải đến báo ngay cho anh Luyến, anh Hội biết để các anh đối phó cho kịp!"
Cả tối hôm ấy, tôi cứ phấp phỏng không ngủ được chờ nghe anh tôi về gọi cửa là dậy mở ngay. Nhưng mãi đến 4-5 giờ sáng, anh tôi vẫn không về, tôi biết ngay là đã xảy ra chuyện không may cho anh rồi, liền chờ sáng hẳn, chạy vội đến báo cho anh Luyến ở phố René Daurelle để anh cũng báo tin cho một số các anh khác biết. Đến hơn 10 giờ thì mật thám dẫn anh tôi về nhà, máu me đầy người, để chúng khám xét tìm tài liệu bí mật. Nhưng vì tôi đã biết trước nên đã chuyển hết tài liệu bí mật của anh tôi để lại đến gửi nhờ những cơ sở khác trong mấy tổ Việt Minh của tôi. Sau này tôi được biết, mật thám bắt được anh An (Đoàn) sau đó chúng bắt anh Doanh tôi, rồi anh Luyến. Các anh trong ban cán sự Thành đều sa vào tay địch. Mật thám truy quét bắt tiếp anh Nghiệp, rồi đến em con chú ruột tôi là Phạm Khắc Minh (tức Nguyễn Quốc Hồng, sau này là phó Viện trưởng Viện Kiểm sát tối cao) cho mãi đến tháng 3 1943 mới tạm dứt. Trong đợt truy lùng này, các cán sự Thành Đảng bộ đều bị bắt, duy có anh Vũ Quý là bí thư ban cán sự Thành thoát khỏi tay địch. Sau này anh Vũ Quý bị nghi là AB (Anti Bolchévich) nên bị điều đi nơi khác.
Các anh bị bắt đều do toà án binh ở phố Maréchal Joffre (Lý Nam Đế) xét xử. Anh tôi bị kết án 20 năm tù và bị đày đi Côn Đảo. Anh Nghiệp và Phạm Khắc Minh bị mỗi người 1 năm tù, giam ở nhà giam Hoả Lò, đến đầu năm 1944 mới được tha.
Lúc bấy giờ tôi mới 16 tuổi nên mật thám không nghi ngờ, nhưng bố tôi vẫn sợ liền bắt tôi về phủ Thuận Thành để tránh địch khủng bố. Nhưng chỉ sau 6-7 tháng kể từ tháng 11-1942, tôi thấy yên ổn nên lại xin phép bố ra Hà Nội học. Khi đến trường Thăng Long, tôi đã không còn liên lạc được với anh Ngô Duy Cảo vì anh cũng bị động nên đã về quê Thái Bình hoạt động cho đến ngày cách mạng tháng Tám. Tôi ra Hà Nội liền tìm đến nhà cô em họ là Ngô Thị Minh Tâm (tức Tuyết Minh, một nhân chứng lịch sử được nhiều cơ quan, đoàn thể biết). Cô em tôi không bị gì, chỉ bị một phen hoảng sợ. Tôi đến lấy lại một va li tài liệu bí mật để đem về tiếp lục hoạt động gây nhân mối mới. Tôi bắt liên lạc lại với anh Quế, anh Thanh để duy trì hoạt động cách mạng và tổ chức thêm người mới thành lập thêm các tổ Việt Minh khác. Qua cô Tuyết Minh, tôi đã liên lạc được với chị Phú (tức Hảo, sau là chuyên viên trường Nguyễn Ái Quốc), chị Tâm Khanh (tức Đinh Thị Yên, sau là Vụ trưởng của Bộ Nội vụ cũ), chị Liên (tức Hà Hoa, tức Hoàng Lê Vân, chuyên viên của Báo Nhân dân) chị Lê Thi (Dương Thị Thoa, giáo sư triết học).
Lúc này, địch khủng bố trắng, tôi mất hết liên lạc với các anh, nhưng cứ lặng lẽ hoạt động, duy trì sinh hoạt với tổ anh Quế, anh Thanh, Tuyết Minh, vì tôi vẫn giữ được nhiều tài liệu bí mật. Trong năm 1943, địch lập ra tổ chức Thanh niên khỏe Ducouroy, một hình thức cũng như Hướng Đạo Sinh, nhưng chủ yếu là để chúng tuyển người làm tay sai cho chúng sau khi đã cho họ đi học hai lớp ESEPIC và ELSEJIC - học về thể thao và lý thuyết huấn luyện. Tôi không còn liên lạc được với cấp trên, tuy vẫn đi học, nhưng vì không có chỉ đạo của thượng cấp nên cứ âm thầm hoạt động một mình. Tôi thấy địch lập ra tổ chức Jeune équype du Tonkin, tôi nghĩ không thể để cho chúng mua chuộc thanh niên mình được. Cân nhắc mãi tôi đến gặp anh Nguyễn Huy Khôi (tức Khôi Kingkong) và anh Đinh Nữu để xin gia nhập tổ chức này. Anh Khôi giới thiệu tôi với tên Fleutot Em đang phụ trách huấn luyện thể thao cho đội Jeune équypc. Tôi biết lên Fleutot Anh là mật thám cho Pháp và hai anh em đều là Tây lai. Tôi được chúng cử ngay làm xếp Jeune équype du Tonkin, có toàn quyền kết nạp đội viên, thành lập các đội theo như tổ chức của Hướng Đạo Sinh mà trước kia tôi đã làm đến Tráng sinh (Routier) do anh họ tôi là Ngô Bích San và anh Hoàng Đạo Thuý thành lập. Tôi đã lợi dùng hình thức đưa anh em đi cắm trại ở những nơi danh lam thắng cảnh và có ý nghĩa lịch sử để tuyên truyền khêu gợi lòng yêu nước.
Ngay trong năm 1943, tôi đã tuyên truyền và kết nạp được anh Ngô Tất Oánh ở xóm chùa Từ Ân - chợ Hôm (sau này là đại tá Thanh Quang, ban chỉ huy quân sự Hà Sơn Bình). Trong các đội Thanh niên Bắc Kỳ, tôi cũng đã tuyên truyền, tổ chức thêm được anh Wan Fooc Thoòng (tức Nguyễn Đường, chủ nhiệm Ty Văn hoá Cao Bằng), anh Bân con trai bà chủ cửa hàng bán vàng giả Mie Ky (Mỹ Ký), anh Chu Quang Hùng, anh Bảo Toàn, anh Chính, anh Đức, anh Ngọc, anh Vinh, anh Tiết, anh Diệp. Sau này các anh đều là cán bộ lãnh đạo của cơ quan kháng chiến và là quân tình nguyện Nam tiến đợt đầu tiên, như anh Chu Quang Hùng, anh Ba v.v...
Đầu năm 1944, anh Nghiệp được ra tù, đến tìm gặp tôi hỏi đã bắt liên lạc được với người của Đảng chưa, tôi nói cho anh biết là vẫn chưa bắt được liên lạc với ai, nhưng tuy vậy tôi vẫn âm thầm tổ chức thêm được 6 tổ hoạt động bí mật (6 tổ là tổ anh Quế, tổ anh Thanh, tổ anh Oánh, tổ Tuyết Minh, tổ anh Đường và tổ anh Bân). Anh Nghiệp khen tôi kiên trì hoạt động và anh bảo: "Anh sẽ giới thiệu Tuấn với một trong ba anh là Lê Quang Đạo (tức Nguyện) anh Nguyễn Khang (tức Đệ) và anh Đặng Kim Giang đến bắt liên lạc với Tuấn, còn anh đã được anh Lê Quang Đạo điều về Bắc Ninh làm háo Cứu quốc bí mật". | |
Logged
|
|
|
|
saoden Thành viên  Bài viết: 1096  | 
| Từ Sở Công an Bắc Bộ ra đi« Trả lời #3 vào lúc: 20 Tháng Sáu, 2022, 06:43:16 am » | Theo ám hiệu do anh Nghiệp dặn trước, ít lâu sau tôi bắt liên lạc được với anh Đệ, cũng là bạn của anh Doanh tôi. Lúc đầu anh còn thử thách tôi nên hỏi lại:
- Ai giới thiệu cậu gặp tôi?
- Anh Nghiệp "thọt", nay anh đổi tên là Xuân Trường.
Anh Đệ không nói gì, chỉ gật đầu.
- Anh Nghiệp có báo cáo với tôi về hoạt động của cậu. Như thế là tốt. Từ nay đừng gọi tên thật của tôi nữa. Cứ gọi là Trường cũng được. Chẳng ai biết Trường nào! (Sau khởi nghĩa tôi mới biết anh là Nguyễn Khang, Xứ ủy viên, lãnh đạo cuộc khởi nghĩa ở Hà Nội và trước đây anh cũng lãnh đạo phong trào cách mạng ở hai trường Thăng Long và Gia Long).
Cũng vào tháng 4-1944, Phạm Khắc Minh cũng được ra tù. Chú Minh cũng tìm đến tôi hỏi xem đã bắt liên lạc được với Đảng chưa. Tuy tôi mới liên lạc được với anh Đệ, nhưng tôi cũng nói là chưa bắt được liên lạc với ai vì đề phòng chỉ có một đầu mối chỉ đạo, bất ngờ mất liên lạc thì lại bơ vơ không biết hoạt động ra sao. Chú Phạm Khắc Minh liền giới thiệu tôi liên lạc với anh Bí, sau này anh Bí cũng đột nhiên chuyển đi, nhưng tôi vẫn duy trì sinh hoạt với anh Đào là người cùng trong một tổ với anh Bí. Tháng 8-1944, chú Phạm Khắc Minh được kết nạp vào Đảng, anh Vũ Quý tổ chức lễ kết nạp cùng với anh Vũ Duy Chương (tức Vũ Oanh), anh Phúc (tức Vân Bụ), anh Tiết (tức Bảo thé)1 (Vì anh Tiết có giọng nói rất lạ, đang trầm ấm, đột nhiên đổi giọng the thé như con gái) ở một nhà tại phố Bát Đàn.
4 người này được cử làm ban cán sự Thanh niên. Sau khi được kết nạp vào Đảng, Phạm Khắc Minh được trên điều đi nhận công tác ở Sơn Tây. Chú Minh đã bàn giao thêm cho tôi tổ anh Lều Đức Huy (đại tá Lê Thái Mỹ, Viện trưởng Viện Kiểm sát Quân sự Quân tình nguyện Việt Nam ở Lào và Campuchia). Sau đó tôi lại liên lạc chỉ đạo thêm tổ anh Nguyễn Vũ Hiệp, anh Lê Văn Cử, anh Phạm Khải Thuỵ... Các anh này cũng đã tổ chức thêm các tổ viên và số người trong 11 tổ đã lên tới 41. Các anh đều là học sinh, hay người làm công nhỏ, tuổi đời mới chỉ 18-20. Tôi đã giữ đầu mối liên lạc của 11 tổ này với cấp trên. Tổ chức đã đông nên hoạt động cách mạng cũng gánh thêm nhiều chức trách. Việc rải truyền đơn lúc đầu chỉ nhờ anh Đào là công nhân hãng in Taupin, thi thoảng lấy cắp được ít chữ chì nên việc in bướm (truyền đơn nhỏ) thuận lợi hơn là phải viết tay. Tuy vậy in bướm theo cách này cũng chậm và lệch lạc, không đẹp. Sau khi tôi liên lạc với anh Lều Đức Huy, nhà anh có hiệu khắc dấu Ích Cát ở đầu phố Hàng Gai, anh Huy đã khắc các khẩu hiệu lên gỗ nên in được nhanh chóng, đủ số lượng cần thiết phát cho các tổ đi rải khắp đường phố trong nội thành.
Ngay sau ngày 9-3-1945, Nhật đảo chính Pháp, tôi gặp lại anh Nguyễn Khang, anh chỉ thị cho tôi là muốn hoạt động tích cực thì phải có súng. Tôi cũng chưa biết làm thế nào để có súng liền hỏi anh thì anh dặn: "Cứ về bàn với các anh chị em trong các tổ thì ra súng!" Khẩu súng đầu tiên đường dây Việt Minh nội thành chúng tôi có dược là khẩu do chị Liên (Hà Hoa) vận động người trong họ là ông Đỗ Dũng, một nhà buôn lớn ở phố Tiền An - Bắc Ninh ủng hộ và do tôi trực tiếp theo mật hiệu sang tận Bắc Ninh lấy về. Khẩu súng thứ hai đáng là một kỷ niệm trong đời hoạt động cách mạng của tôi. Đó là khẩu súng lấy trộm được của một tên sĩ quan Nhật say rượu trong trường hợp rất ngẫu nhiên. Lúc đó tôi đi dạy học tiếng Anh cho mấy thanh niên trong đội Jeune Équype du Tonkin, khi về qua đường Gambetta (Trần Hưng Đạo) gặp một người kéo xe cứ ca cẩm vì phải kéo tên Nhật say rượu ngủ trên xe mà không biết đưa nó về đâu. Tôi nảy ra ý kiến táo bạo liền bảo ông phu xe kéo nó vào trong sân toà án, ở đó tối tăm, um tùm, rồi hai chúng tôi khiêng nó xuống đặt lên sân trước thềm toà án, thấy nó vẫn ngủ mê mệt, tôi liều lĩnh mở bao da đựng súng, rút rộm được khẩu súng còn mới nguyên. Đó là khẩu súng hiệu Chiêu Hoà mà tôi đã dùng chiến đấu một năm trời khắp vùng Thượng Lào rồi trở về kháng chiến ở Thủ đô trong 2 tháng trước khi rút khỏi Hà Nội.
Kinh nghiệm tìm súng được phổ biến trong tất cả anh chị em ở 11 tổ, để mọi người tích cực tự trang bị lấy súng. Chỉ trong vòng 5 tháng, các anh Tất Oánh, anh Đường, anh Ba, anh Lều Đức Huy, anh Cử đã tìm mọi cách vận động những cơ sở yêu nước, ủng hộ Việl Minh những khẩu súng ngắn. Anh Lều Đức Huy vận động ông Hách Hiên là anh ruột Trần Tâm ủng hộ khẩu Browning, anh Thanh Quang và anh Ba cũng theo tôi nhờ hai chị gái nhảy là chị Chinh và chị Nguyệt, cùng ở trong xóm chùa Từ Ân, lừa dịp một tên Nhật say rượu, dìu nó ra hồ Halais để cho anh lấy trộm súng. Anh Đường cũng vận động ông bố là Wan Fooc Quẩy, người Hoa tìm mua được khẩu súng Colt Tàu ủng hộ cho Việt Minh. Anh Huy còn vận động anh Phạm Lê Khánh, con trai ông Phạm Lê Bổng, một nghị viên và là nhà tư bản có cửa hàng ở phố Hàng Bồ bán pháo Tường An, ủng hộ khẩu Smith Watson. Hai em gái của anh Khánh là chị Chung và chị Chinh cũng ủng hộ cách mạng nhiều tiền và mua tín phiếu Việt Minh. Anh Huy còn mua được của một tên Nhật khẩu Smith Watson nữa. Anh Cử có ông bố làm ở sở Lục lộ (Travauw Publics) được Pháp phát cho khẩu súng Browning nhỏ xíu. Anh vẫn thường dùng trộm khi ông bố đi vắng để súng ở nhà. Anh Ba cũng vận động ông bố là người gốc Hoa làm giám thị ở nhà giam Hoả Lò, ủng hộ một khẩu Colt Tàu. Ông này có hai người con trai của vợ trước là Trương Văn Huỳnh và Trương Văn Hụych đều là bộ đội chống Pháp. Anh Huỳnh là C trưởng quân báo, hy sinh trong chiến dịch Tây Bắc. Anh Huỵch tham gia quân lình nguyện Nam tiến hồi tháng 10-1945 và đã hy sinh ở chiến trường miền Nam.
Như vậy là trong một thời gian ngắn, nhờ có lực lượng những gia đình có cảm tình với cách mạng mà 11 tổ Việt Minh trong đường dây do tôi phụ trách đã tìm được 10 khẩu súng ngắn.
Có vũ khí rồi thì phải có huấn luyện quân sự. Bố tôi làm việc ở phủ Thuận Thành, có một cơ đội lính Khố xanh bảo vệ phủ. Những ngày nghỉ hè, ngày chủ nhật, tôi thường về thăm bố mẹ và chơi với các lính Khố xanh này để họ dạy cho tôi cách sử dụng súng, và đồng thời tôi cũng tuyên truyền khêu gợi ở họ lòng yêu nước, căm thù đế quốc Pháp. Khi được chỉ thị của anh Khang là phải huấn luyện cho anh chị em hiểu về quân sự, tôi đã mượn khẩu súng Mousqueton của anh em lính Khố xanh mà trước đây tôi vẫn thường mượn súng để đi bắn chim mòng, két, vịt giời... Tôi tổ chức cho số anh em đi bắn đạn thật, anh Huy, anh Vĩnh, anh Oánh, anh Đường... bắn đợt đầu. Các anh đã đạp xe từ Hà Nội về phủ Thuận Thành và được tôi đưa đến rìa bụi tre làng, hướng dẫn cách mở súng, cách lắp đạn, ngắm bắn v.v... và mỗi anh được bắn một phát đạn thật lên trời. Đạn thì chúng tôi đã vận động lính Khố xanh trong trại Bảo an binh ủng hộ lúc thì vài ba viên, lúc cả kẹp đạn có 5 viên... Khi nổ súng xong, anh em lại đạp xe về Hà Nội. Lúc đó bố tôi đang trông nom việc giữ đê ở bến đò Hồ, nghe tiếng súng tưởng là cộng sản đã cướp phủ vội về ngay nhưng thấy cơ lính Khố xanh vẫn canh gác bình thường. Bố tôi biết chuyện liền trói tôi vào gốc cây ngay trước cửa phủ, mãi đến trưa anh em lính mới cởi trói cho tôi và đưa tôi lên lô cốt chơi nói chuyện về súng đạn với họ. | |
Logged
|
|
|
|
saoden Thành viên  Bài viết: 1096  | 
| Từ Sở Công an Bắc Bộ ra đi« Trả lời #4 vào lúc: 20 Tháng Sáu, 2022, 06:44:10 am » | Đợt huấn luyện bắn súng thứ hai tôi đã điều chị Tuyết Minh, chị Hảo, chị Liên, chị Tâm Khanh về Đình Bảng bắn súng tập. Thời gian này hoạt động của Việt Minh đã rầm rộ gần như công khai, và hôm các chị được đi tập bắn súng cũng là ngày 17-8-1945, đang có cuộc mít tinh của tổng hội viên chức do chính phủ bù nhìn Trần Trọng Kim tổ chức ở Nhà hát lớn. Các chị bắn tập xong liền quay về Hà Nội để kịp dự cuộc mít tinh, không phải để ủng hộ mà để biến nó thành cuộc biểu tình lớn của nhân dân Hà Nội.
Khi đường đây 11 tổ Việt Minh có đủ súng, tôi liền xin phép anh Khang cho trừng trị con Hồng ở phố Luro (Lê Ngọc Hân) làm tay sai cho Nhật, mà anh Cử đã điều tra theo dõi lâu ngày. Nhưng anh Khang chưa cho phép chúng tôi xử trí Hồng. Tôi lại xin xử trí tên võ sư Lộc ở ngõ chợ Hôm, hắn đã đi học lớp huấn luyện ESEPIC ở Phan Thiết và được cử làm cảnh sát có đeo súng ngắn thật. (Vì thường lúc đó cảnh sát người Việt chỉ được đeo bao da đựng súng, nhưng trong chỉ có diêm và thuốc lào, mà không có súng). Việc ám sát tên Lộc cũng chưa được chỉ thị của thượng cấp, thì anh Khang đã giao cho tôi huy động một số anh em bảo vệ vòng ngoài cho đội ám sát con Nga ở quán Thiên Hương, phố Hàm Long, tên Trương Anh Tự, giáo viên dạy Anh văn ở chỗ Tám Gian, phố Huế, tên Hoàng Si Nhu ở phố Laveran (Lê Văn Hưu). Anh chị em chúng tôi còn được giao nhiệm vụ bảo vệ hai cuộc mít tinh ở làng Canh và làng Mễ Trì. Trong cuộc tuyên truyền ở rạp Tố Như (Chuông Vàng ngày nay) tôi được giao nhiệm vụ bịt mặt, cầm súng lên chế áp ông Paul Chí, nhạc trưởng để ép ban nhạc cử hài Tiến quân ca. Nhưng khi một chiến sĩ Việt Minh vừa lên sân khấu thì ở hàng ghế khán giả có tên sĩ quan Nhật vùng lên chạy ra. Nó bị một chiến sĩ nổ súng bắn, nhưng tên Nhật còn cố chạy được ra Bờ Hồ mới ngã. Trong lúc lộn xộn, một đội viên tuyên truyền xung phong tay cầm súng, trèo lên cửa sổ nhìn ra phố Tạ Hiện, định nhảy xuống đấy, nhưng tay chạm vào cò súng làm nổ và bị thương một tuyên truyền xung phong khác. Nhật bắt được đội viên này và sau cách mạng tháng Tám, anh em mới đến nhà dầu Shell đón được anh. Trước ngày 17-6-1945, anh Khang có giao nhiệm vụ cho đường dây Việt Minh nội thành chúng tôi là phải phá cho được cuộc mít tinh do bọn Đại Việt tổ chức, hình thức là để kỷ niệm ngày Nguyễn Thái Học bị Pháp xử tử trước đây, nhưng thực ra là để chúng tuyên truyền thuyết Đại Đông Á của Nhật. Các tiểu tổ mang tất cả số súng ngắn đã có, cờ đỏ sao vàng, hàng tập truyền đơn, tờ bướm... giấu trong áo, sẽ có mặt vào lúc 8 giờ sáng ngày 17-6-1945 ở ngay xung quanh hồ phía trước núi Nùng. Trên miếu nhỏ ở núi Nùng chúng đặt một bàn, bày chiếc đỉnh đồng lớn và ảnh Nguyễn Thái Học, chăng các khẩu hiệu và những vòng hoa bằng hạt cườm. Cứ sau mỗi vòng hoa là một tên Thanh niên áo nâu của Võ Văn Cầm đứng như là tiêu binh danh dự. Dưới chân khán đài là trung đội Thanh niên áo nâu mang súng trường đứng thành hàng nghiêm chỉnh. Xung quanh hồ và ở khắp các bãi cỏ phía trước khán đài đã có nhiều người đến tham dự. Anh chị em chúng tôi cũng trà trộn vào trong đám đông nhân dân, nhưng tập trung nhiều ở phía trước hồ nước. Khi tên Nguyễn Thế Nghiệp đăng đàn, diễn thuyết nói về thuyết Đại Đông Á của Nhật, tôi khẽ bấm tay anh Ngô Tất Oánh ra hiệu cho anh hô lớn: "Đả đảo Nghiệp, Sơn là chó săn của Nhật! Đánh đổ giặc Nhật ủng hộ Việt Minh!" Hưởng ứng tiếng hô của anh Oánh là hàng trăm lời hô vang tiếp theo. Có người dân không phải là Việt Minh nhưng cũng hô theo chúng tôi. Truyền đơn, bướm được rải trắng mặt cỏ. Trong khi ấy các chị trong tổ nữ sinh đã len lỏi trong đám đông nhân dân nói to: "Về đi! Về đi! Giặc Nhật khủng bố đấy!" Đám đông nhân dân rùng rùng bỏ ra về với những lời nói cười ồn ào làm cho tên Nghiệp ở trên khán đài phải ấp úng nói vào micro: "Các anh Việt Minh hiểu lầm chúng tôi rồi!"
Chúng đã nhận ra đối thủ của chúng là Việt Minh, nhưng không dám vọng động ra tay đàn áp vì chúng thấy khí thế của nhân dân hùng hậu ủng hộ Việt Minh.
Đúng lúc ấy, anh Quế bảo tôi: "Tuấn lên đi! Bắt chúng nó giải tán". Thấy khí thế của nhân dân rất cao và thấy tên Nghiệp ấp úng thanh minh, tôi càng thêm hăng hái, vừa chạy lên chỗ khán đài, vừa rút khẩu Chiêu Hoà giấu trong áo, chạy lên trước. Quế và anh Đường bám sát ngay theo bên tôi. Đến chỗ bọn Thanh niên áo nâu, tôi vung khẩu súng ngắn chỉ vào mặt chúng, quát to "Giải tán! Giải tán mau!"
Bọn này hoảng sợ chỉ chúi vào nhau không dám có hành động nào phản ứng. Tôi thấy tình hình nhân dân đang rùng rùng bỏ ra về, biết là đã thắng lợi, nên bảo Quế và Đường: "Rút lui thôi!"
Ngày hôm sau, tôi đã đi gặp từng tổ nhắc nhở anh chị em phải chú ý đến việc chúng sẽ trả thù ra tay khủng bố. Quả nhiên như vậy! Nhà anh Lều Đức Huy, là hiệu khắc dấu Ích Cát bị Nhật đến khám xét. Nhưng anh Huy đã nhanh trí làm một chuyện bất ngờ là giấu số truyền đơn còn lại, cuộn vào chiếc mành mành nứa treo ngay trước cửa hiệu. Bọn lính Nhật không tìm thấy được tài liệu nào nên phải ra về. Anh Mạc Phúc Ứng là con chủ hiệu in Tân Dân, đi chơi về đến cửa nhà thấy lính Nhật đang khám xét nên anh đi luôn không về nhà nữa. Anh Oánh đi làm ở nhà dầu Tam Đa, phố Thuỵ Khuê, sáng hôm sau đến nơi làm việc thì ông chủ cười nói: "Lộ mặt rồi nhé! Sao hôm qua hét to thế!" Ông nói xong cũng bỏ qua chuyện này mà không đả động gì tới việc anh Oánh tham gia Việt Minh. Riêng tôi, mấy hôm sau đang ngủ thì chợt nghe thấy tiếng xe ô tô xịch đỗ và bọn Nhật nói xí xố ngay trước cửa nhà. Tôi vùng dậy, xuống chỗ đống củi để ở dưới bếp ngôi nhà số 36 Hoà Mã, lấy vội chiếc cặp đựng ba khẩu súng, nhảy qua tường sang nhà bên cạnh, vì khu đó là một dãy nhà xây liền nhau cùng một kiểu để cho thuê. Vượt qua tường của mấy nhà láng giềng, tôi ra cửa sau nơi công nhân đổ thùng đến làm vệ sinh, chạy luồn qua các bụi tre, qua các ruộng rau muống, các vũng nước, chạy dài đến tận phố Luro rồi đi mất. Sáng hôm sau tôi báo cáo lại sự việc phá cuộc mít tinh của bọn Đại Việt với anh Khang thì anh chỉ nói: "Làm được đấy! Nhưng việc Tuấn rút súng chạy lên bắt bọn Thanh niên áo nâu của Võ Văn Cầm giải tán là liều lĩnh!" Tôi im lặng biết lỗi của mình. | |
Logged
|
|
|
|
saoden Thành viên  Bài viết: 1096  | 
| Từ Sở Công an Bắc Bộ ra đi« Trả lời #5 vào lúc: 20 Tháng Sáu, 2022, 06:44:50 am » | Ngày 19-8-1945, tất cả anh chị em trong 11 tổ của đường dây Việt Minh nội thành chúng tôi đã tuỳ tình hình của mỗi người tham gia vào việc chiếm Bắc Bộ phủ, chiếm trại Bảo an binh. Đặc biệt khi chúng tôi cùng mọi người vào chiếm trại Bảo an binh thì bị quân Nhật cho xe tăng đến án ngữ ở ngay hai đầu phố trước cửa trại. Bí thư Thành ủy và các đồng chí trong ban khởi nghĩa liền cho người ra gọi tổ nữ sinh vào hỗ trợ. Chị Tuyết Minh, Tâm Khanh, Phú Hảo, Hà Hoa, Lê Thi vẫn áo dài quần trắng thướt tha, mang lá cờ đỏ sao vàng lớn từ ngoài, đi qua mặt xe tăng Nhật tiến vào ngách nhỏ của cổng trại, đến gặp ban chỉ huy khởi nghĩa, ở đó các chị thấy ông quản Liên, phụ trách quân nhạc của Bảo an binh còn ngồi lại để chờ thái độ của quân cách mạng.
Sau này khi đã làm việc với Bộ Quốc phòng, đến khi về hưu, ông đã viết hồi ký, nhớ lại ngày hôm ấy và có ghi một câu: "Không ngờ lại là 5 cô nữ sinh cành vàng, lá ngọc tiến vào trong trại..."
Ông Trần Huy Khôi (Trần Quang Huy) ủy viên Ban khởi nghĩa, sau đó là chủ tịch đầu tiên của Ủy ban nhân dân Hà Nội đã nhớ lại trong những trang hồi ký: "Hà Nội hôm ấy cực đẹp. Vòm trời trong xanh không gợn chút mây. Nắng thu như mật ong vàng óng. Rừng cờ đỏ phấp phới bay trong gió lộng..."
Tiếp sau đó là những hoạt động chiếm lĩnh các vị trí quan trọng như Sở Liêm phóng, Hoả Lò, Toà án, Xưởng đúc tiền ở cuối phố Lò Đúc v.v..., tuần tra lùng bắt những tên phản cách mạng còn lẩn tránh.
Pháp tái chiếm Nam Bộ, những anh chị em đi Nam tiến đợt đầu gồm có: Cử, Huy, Thái Vĩnh, Hùng Síu, Phú Hảo, Tâm, Hải Ba... Họ đã chiến đấu suốt dọc chiều dài của đất nước.
Khi địch phản công ở Đông Bắc thì đã có Long, Nguyễn Thanh, Đường lên Đông Bắc đánh Pháp, tiễu phí, tham gia xây dựng chính quyền cách mạng.
Tôi theo đoàn giải phóng quân được đặc cử sang Lào làm cuộc khởi nghĩa thứ hai giành chính quyền cách mạng cho nhân dân vùng Thượng Lào. Tôi làm trung đội trưởng cùng với hai trung đội giải phóng quân người Tày ở chiến khu Cao Bằng, hành quân bí mật sang đánh Pháp từ Bắc Thượng Lào xuống đến Trung Lào gần Luang Prabana là đất của nhà vua Lào rồi rút quân về bảo vệ Sầm Nưa (Hủa Phăn bây giờ).
Nhiều người đã hy sinh trên chiến trường Đông Dương, bị thương như Ly Sơn, Long, Bảo Toàn, Vinh v.v...
Trong đường dây Việt Minh nội thành, đặc biệt có anh Đào, quê ở Thanh Nhàn được tôi giới thiệu đi học lớp quân sự ở Mương Khói, Lạc Sơn, Hoà Bình do anh Vương Thừa Vũ huấn luyện. Trước khi anh Đào đi học, tôi đã giao cho anh khẩu súng Saint Étienne mà ông Đỗ Dũng đã ủng hộ cho chúng tôi. Anh Đào sau này là Bí thư Thành ủy Hà Nội (1946 - 1947) rồi bí thư Tỉnh ủy Hà-Nam-Ninh trong thời kỳ kháng chiến và là thứ trưởng Bộ Ngoại thương khi hoà bình lập lại.
Trong cuốn hồi ký "Hồi ức tuổi xanh" do Nhà xuất bản Thanh niên xuất bản năm 2001, anh Đào có viết như sau:
"Khoảng giữa năm 1944, đồng chí Bí được chuyển đi nhận nhiệm vụ khác thì tôi lại được giới thiệu với đồng chí Lê Tuấn, cho đến ngày tôi được đồng chí Tuấn giới thiệu đi học lớp quân sự ở Mường Khói, Lạc Sơn, Hoà Bình. Đồng chí Tuấn giới thiệu tôi cùng đi với ba đồng chí khác là Lê Quân, Hoàng Hữu Nhân, Thôi Hữu. Sau đó đồng chí Quyết đến tận Sở dầu Shell là nơi tôi đang làm việc để dặn thời gian và địa điểm cùng đi với đồng chí Lê Quân..."
Gần 50 năm sau, đến tận 1990, chúng tôi mới có dịp họp mặt nhau ở nhà tôi để hồi nhớ lại những ai còn, ai mất và tìm gặp lại số anh chị em có mặt ở Hà Nội, viết lại hồi ức của một đường dây Việt Minh hoạt động trong nội thành từ năm 1940 đến 1945.
Những kỷ niệm vui buồn lẫn lộn của những người còn sống, đến nay cũng đã ngoài 70-80 tuổi, đã là ông, bà, cụ của lớp con, cháu, chắt sau này rồi. Tôi nhắc lại chuyện cũ vẫn thấy lòng bồi hồi những kỷ niệm khó quên của một thời trai trẻ.
Năm 1942, anh ruột thứ 3 của tôi là Phạm Bộ Doanh, cán sự Đảng Cộng sản Đông Dương tại thành phố Hà Nội, (chưa gọi là thành ủy viên) đi rải truyền đơn nhân dịp 25 năm Cách mạng Nga thành công, thì bị lộ, thực dân Pháp bắt được anh tôi, đưa ra xét xử ở toà án binh, kết án anh tôi 20 năm tù và đày đi Côn Đảo, cho đến ngày cách mạng thành công, anh tôi và các chiến sĩ tù Côn Đảo được đón về đất liền rồi tham gia kháng chiến ngay ở miền Nam cho đến ngày hoà bình mới tập kết ra Bắc.
Sau cách mạng tháng Tám, tôi có 12 anh, chị em ruột thì 10 người đã tham gia kháng chiến. Trong đó có 5 người ở bộ đội chính quy chiến đấu chống Pháp ở cả ba miền: Bắc, Trung, Nam và có hai người là quân tình nguyện chiến đấu ở Lào và Campuchia. Anh thứ tư của tôi là quân tình nguyện chiến đấu ở Campuchia, còn tôi là quân tình nguyện chiến đấu ở Lào, đánh Pháp, giành lại chính quyền cách mạng cho nhân dân vùng Thượng Lào từ tháng 9-1945 cho đến tháng 9-1946, khi có Tạm ước 14-9, mới về nước. Em trai út của tôi là liệt sĩ đánh trận ở Cầu Trắng thuộc Kim Anh cũ. Cũng vì gia đình có thành tích như vậy nên khi hoà bình lập lại, năm 1955, bố mẹ tôi đã được Chính phủ tặng Bảng Vàng Danh Dự và Huân chương Kháng chiến hạng Ba.
Khi tôi ở Lào về được đồng chí Hoàng Sâm, chỉ huy Chiến khu II cử về báo cáo tình hình chiến sự ở Lào với Hội đồng, Quân sự ủy viên hội đóng ở trường Đồng Khánh cũ, nay là trường Trưng Vương. Hết hạn nghỉ phép, tôi chuẩn bị lên Tông - Sơn Tây để nhận nhiệm vụ mới thì được gặp ông Lê Giản và ông Hoàng Mỹ. Hai ông đã xin bên Quốc phòng cho tôi chuyển sang công tác ngành Công an, vì lúc đó ngành Công an rất thiếu cán bộ nên vẫn phải sử dụng viên chức lưu dụng của Sở Mật thám cũ. |
|
|