Khác

Từ tay súng bắn tỉa đến người cha kiên cường: Hành trình của Trương Đức Hai

Câu chuyện tái hiện cuộc đời chiến đấu và hậu chiến nhiều gian truân của Anh hùng Trương Đức Hai – một xạ thủ lừng danh nơi chiến trường Quảng Trị, đồng thời là người cha kiên cường vượt qua nghịch cảnh để nuôi dạy các con trưởng thành.

Quảng Trị24/04/2026Nguyễn Đức Dũng (Phường Đồng Hới)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Người lính năm xưa nay đã trở thành một Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, từng được biết đến với biệt danh “xạ thủ bắn tỉa số 1”, mang trong mình phong thái rắn rỏi, gan góc và đầy bản lĩnh. Khi nhắc về quá khứ, với nụ cười hiền hậu, ông Trương Đức Hai chỉ nhẹ nhàng chia sẻ: “Chiến tranh đã lùi xa, nhiều điều đã được lịch sử ghi lại, giờ không cần nhắc lại nhiều. Được sống đến hôm nay đối với tôi đã là một niềm hạnh phúc lớn”. Dẫu vậy, những ký ức về một thời kháng chiến chống Mỹ cứu nước vẫn in đậm trong tâm trí ông. Sinh ra và lớn lên tại làng Hải Chữ, xã Trung Hải, huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị – vùng đất nằm phía Nam sông Bến Hải, trong một gia đình giàu truyền thống cách mạng, ông sớm chứng kiến nỗi đau chia cắt và sự tàn bạo của kẻ thù, từ đó hun đúc ý chí đứng lên chiến đấu. Trong giai đoạn từ năm 1966 đến 1972, chiến trường Gio Linh trở thành điểm nóng ác liệt. Địch không chỉ sử dụng bom đạn mà còn dựng lên hàng rào điện tử McNamara nhằm ngăn chặn sự chi viện từ miền Bắc. Ngay từ năm 1965, ông đã tham gia hoạt động cách mạng với vai trò giao liên, sau đó là dân quân du kích xã Trung Hải, trực tiếp chiến đấu bảo vệ quê hương, ngăn chặn các cuộc càn quét dọc sông Bến Hải. Đến năm 1967, khi địch mở rộng các cuộc càn quét vào Trung Giang, Trung Hải, Trung Sơn và dồn dân vào các trại tập trung, ông tiếp tục bám trụ. Năm 1968, ông được điều động về xã Gio Mỹ, đảm nhiệm vai trò trung đội trưởng rồi xã đội trưởng, cùng lực lượng du kích phối hợp bao vây căn cứ 31 – một vị trí chiến lược án ngữ khu vực phía Đông từ Cửa Tùng. Trong chiến dịch Mậu Thân, ông cùng đồng đội kiên cường đánh tỉa, chống càn liên tục, không để địch mở rộng phạm vi kiểm soát. Ông kể lại rằng, mỗi ngày địch dùng trực thăng tiếp tế cho căn cứ đều bị lực lượng ta bắn phá. Đến cuối năm 1968, đầu năm 1969, căn cứ 31 buộc phải bị bỏ lại do không thể trụ vững. Từ đó, hành lang phía Đông từ Cửa Tùng đến Cửa Việt được khai thông, tạo điều kiện thuận lợi cho các chiến dịch tiếp theo. Trong những năm chiến đấu tại Gio Mỹ, ông nhiều lần đối mặt với cái chết, hai lần bị thương nặng nhưng vẫn không rời trận địa. Cuối năm 1969, ông được tăng cường về xã Gio Lễ – nơi nằm trên tuyến hàng rào điện tử McNamara, chịu sự kiểm soát gắt gao của địch. Tại đây, ông cùng lực lượng cách mạng tập trung tiêu diệt các lực lượng địa phương quân, bảo an và những toán biệt kích chuyên phục kích lực lượng ta. Với sự mưu trí và gan dạ, ông thường xuyên bám dân, xây dựng cơ sở cách mạng, thậm chí nhiều lần cải trang thành lính đối phương để đột nhập vào căn cứ địch, tiêu diệt những tên ác ôn ngay giữa ban ngày. Ông đã tham gia hàng trăm trận đánh lớn nhỏ, từ phục kích đến phản phục kích, góp phần giữ vững phong trào cách mạng trên địa bàn. Sau đó, ông tiếp tục được điều về xã Gio Sơn – một vùng trắng không còn cơ sở cách mạng do dân bị dồn vào khu tập trung Quán Ngang. Tại đây, ông cùng đơn vị kiên trì chiến đấu, tiêu hao lực lượng địch. Đến năm 1972, ông cùng đơn vị C4 bộ đội địa phương Gio Linh tiến công chi khu Quán Ngang, giải phóng người dân khỏi khu tập trung. Sau giải phóng, ông được giao nhiệm vụ Chủ tịch xã Gio An, trực tiếp lãnh đạo nhân dân khôi phục cuộc sống. Trong suốt quá trình chiến đấu, ông Trương Đức Hai đã được trao tặng 6 danh hiệu Dũng sĩ diệt Mỹ, Dũng sĩ ưu tú cùng nhiều huân, huy chương và bằng khen ghi nhận thành tích xuất sắc. Dù lập nhiều chiến công trong chiến tranh, cuộc sống đời thường của ông lại không ít gian nan. Người vợ của ông qua đời sau 13 năm chống chọi với bệnh tật, để lại cho ông bốn người con nhỏ. Một mình ông gánh vác gia đình, nuôi dạy các con trưởng thành trong hoàn cảnh thiếu thốn. Chưa đến tuổi nghỉ hưu, ông đã xin nghỉ việc sớm để chăm lo cho các con. Sau đó, ông mạnh dạn vay mượn vốn, thành lập một công ty xây dựng nhỏ, vừa để ổn định cuộc sống, vừa có điều kiện giúp đỡ người khác. Với ông, đó không chỉ là kế sinh nhai mà còn là cách để tiếp tục vươn lên sau chiến tranh. Ghi nhận những cống hiến to lớn, Đảng và Nhà nước đã phong tặng ông danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Tuy nhiên, ông luôn khiêm nhường cho rằng, vinh dự ấy không chỉ của riêng mình mà còn là sự kết tinh từ sự hy sinh của đồng đội và sự đùm bọc của nhân dân. Ngày hôm nay, điều khiến ông tự hào nhất không phải là những chiến công năm xưa, mà là bốn người con đều trưởng thành, có công việc ổn định. Với ông, đó chính là “gia tài” lớn nhất – nguồn động lực để tiếp tục sống ý nghĩa và đóng góp cho xã hội.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn