Từ Thành Đại La đến Thăng Long thời Nguyễn
Hơn 1.000 năm tuổi, vùng đất Thăng Long - Hà Nội đã trải qua biết bao thăng trầm của lịch sử. Những tư liệu lịch sử, những địa danh, di chỉ còn lại đến ngày nay cho phép hình dung một phần nào đó về vùng đất này.
Thế kỷ V, chế độ phong kiến phương Bắc lập một huyện mới trên vùng đất trung tâm Hà Nội cổ. Đó là huyện Tống Bình. Năm 679, nhà Đường lập An Nam Đô hộ phủ gồm 12 châu, 59 huyện, bao gồm vùng Bắc Bộ đến đèo Ngang (Hà Tĩnh) và một phần phía Nam hai tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây (Trung Quốc). Từ đó đến thế kỷ X, Tống Bình mà trung tâm là vùng Hà Nội ngày nay trở thành trị sở của nhà Đường.
Nửa sau thế kỷ IX, tiết độ sứ Cao Biền đắp An Nam La Thành (thành Đại La). Thành Đại La do Cao Biền xây đắp có quy mô lớn nhất từ trước đến thời bấy giờ trên đất cổ Hà Nội. Tòa thành này được các nhà khảo cổ khai quật trong mấy năm gần đây - di tích nằm ở độ sâu 4 - 5m trong khu di chỉ Hoàng thành Thăng Long, tại địa điểm 18 phố Hoàng Diệu.
Năm 1010, Lý Công Uẩn dời đô Hoa Lư về thành Đại La, rồi đổi tên thành Thăng Long. Trong chiếu dời đô, Lý Công Uẩn viết: "... thành Đại La, kinh đô của Cao Vương, ở vào nơi trung tâm của trời đất, được cái thế rồng cuộn, hổ ngồi. Đã đúng ngôi Nam, Bắc, Đông, Tây, lại tiện hướng nhìn sông, tựa núi. Địa thế rộng mà bằng, đất cao mà thoáng. Dân cư khỏi chịu cảnh khốn khổ ngập lụt, muôn vật cũng rất mực phong phú, tốt tươi. Xem khắp đất Việt ta, chỉ nơi này là thắng địa. Thật là chốn hội tụ trọng yếu của bốn phương đất nước, cũng là nơi kinh đô bậc nhất của đế vương muôn đời...".
Kinh thành Thăng Long được giới hạn bởi ba con sông: Sông Nhị Hà (sông Hồng), sông Tô Lịch và sông Kim Ngưu. Để củng cố chính thế, nhà Lý đã xây dựng một số cung điện, nơi làm việc của vua và triều đình. Trung tâm là điện Càn Nguyên, nơi thiết triều của nhà vua, hai bên có điện Tập Hiền và điện Giảng Võ. Phía sau là điện Long An, Long Thụy, nơi nghỉ của Vua. Để bảo vệ các cung điện, nhà Lý cho đắp một vòng thành bao quanh gọi là Thăng Long thành. Thành đắp bằng đất, sau được xây ốp bằng gạch, đá. Phía ngoài có hào, mở bốn cửa: Cửa Tương Phù phía Đông, mở ra phía chợ Đông và đền Bạch Mã (phố Hàng Buồm ngày nay). Phía Tây là cửa Quảng Phúc. Phía Nam là cửa Đại Hưng (ở gần Cửa Nam ngày nay). Phía Bắc là cửa Diệu Đức nhìn ra sông Tô Lịch (khoảng phố Phan Đình Phùng ngày nay).



