Từ Thất Bại Phước Vĩnh Đến Chiến Thắng Bù Na: Bản Lĩnh Đặc Công 1969
Đoạn trích tái hiện giai đoạn chiến đấu đầy cam go nhưng rực lửa anh hùng của lực lượng Đặc công Miền tại Đông Nam Bộ trong đợt hoạt động hè 1969. Tâm điểm của truyện là quá trình vượt qua nghịch cảnh: từ thất bại đáng tiếc tại căn cứ Phước Vĩnh do hệ thống "máy nghe tiếng động" hiện đại của Mỹ, các chiến sĩ đã không hề nản chí mà chủ động nghiên cứu, "giải mã" công nghệ đối phương để rút ra bài học xương máu. Với tinh thần "thua keo này bày keo khác", đơn vị đã thực hiện cú chuyển hướng ngoạn m
Bị thua đau ngay những ngày đầu năm, tướng A-bram, tư lệnh quân đội Mỹ ở Sài Gòn hối thúc cho mở hai cuộc hành quân “Đại bàng” ra hướng Tây Ninh, “cái nêm Át-lát” đánh ra rừng cao su Mít-xơ-lanh của Pháp cai quản. Cuộc hành quân “cái nêm Ảt-lát” do hơn một vạn lính Mỹ và ngụy Sài Gòn tiến hành nhằm hai mục đích: diệt lực lượng ta trụ bám ở đó và phá trụi khu rừng còn lại, mở rộng khu trắng, không cho ta dùng nó làm bàn đạp, làm khu tập kết chuẩn bị tiến công chúng ở Tây Ninh, Trảng Lớn, Đồng Dù. Cũng bởi lẽ đó, ngoài quân đông, địch còn huy động tới 500 xe tăng, xe bọc thép cày ủi cây cối, dùng bom na-pan đốt lô, dùng biết kích và trực thăng vũ trang xăm bắn lực lượng ta trụ bám ở đây.
Ở sở chỉ huy, chúng tôi thực sự lo lắng vì có một bộ phận của tiểu đoàn 5 sau khi đánh căn cứ địch ở Dầu Tiếng, được lệnh đi nghiên cứu tiếp địch ở Tua Hai, Núi Cậu, đang bị kẹt ở khu rừng này, tính mạng anh em sẽ ra sao, liệu có ra khỏi vòng vây của địch hay không? Nhất là sau khi địch kết thúc hành quân, đã rút về các hậu cứ mà vẫn không thấy anh em trở lại thì nỗi lo lắng trở thành thương xót, nhiều người đã khóc.
Giữa lúc ấy tôi gặp Ninh1 ở quán Tám. Tôi sung sướng reo lên:
- Còn sống hả?
- Chết sao được, anh.
Rồi Ninh kể: Tôi và một số chiến sĩ từ căn cứ Dầu Tiếng tới đây thì trời tối. Chúng tôi quyết định ngủ lại để lấy sức mai đi tiếp về hướng Tua Hai như kế hoạch đã định, thì sáng hôm sau địch đổ quân vào cánh rừng này, ập từ bốn phía. Thế là chúng tôi bị kẹt ở đây, chúng tôi liền tổ chức lực lượng, phân công trách nhiệm chỉ huy chiến đấu. Địch đánh phá thật dã man và ác liệt. Máy bay đầy trời, xe tăng gầm rú dưới mặt đất. Lòng chúng tôi quặn đau không sao cầm được nước mắt khi chứng kiến anh Hai Tiến, bí thư huyện ủy Dầu Tiếng bị xe tăng địch lăn đè trong lúc tay phải anh không rời trái nổ, không khuất phục trước sức mạnh của kẻ thù mà sẵn sàng chấp nhận sự đối đầu. Hình ảnh bất khuất ấy của anh cho chúng tôi thêm sức mạnh. Chúng tồi chiến đấu linh hoạt, lúc đánh lúc lui, lúc xuất hiện bất thần, lúc lại nằm im giấu mình, cứ thế mà quần đảo với địch.
Ninh kết thúc: Hôm nay tôi trở về lữ đoàn báo cáo và đề nghị các anh vẫn cho chúng tôi được tiếp tục điều nghiên các mục tiêu phục vụ cho đợt hoạt động hè tiếp theo.
Ninh đi trong đoàn 30 khung2 vào chi viện cho chiến trường
B.2 từ tháng 7 năm 1967, phục vụ cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968. Ninh lên đường trước tôi hai tháng nhưng lại đến sau, vì anh đi theo đường Trường Sơn.
Ninh có dáng người xương xương chắc khỏe, tính tình sôi nổi, ưa hành động và thích làm thơ. Mỗi khi có cảm hứng, Ninh thường ứng khẩu làm thơ, cùng với anh em góp phần làm cho cuộc sống đơn vị thêm vui, bớt căng. Anh em đã yêu mến tặng anh tên gọi là ông “Đỗ Phủ - Ninh”. Anh đã chiến đấu hết mình trên đất miền Đông từ ngày vào đây (sau này anh trở thành Anh hùng lực lượng vũ trang cũng từ mảnh đất gian lao và anh dũng này).
Tháng 5 lại về, một mùa mưa chu kỳ của đất trời đã đến với đất miền Đông. Những trận mưa đến sớm mang lại bầu không khí trong lành, tươi mát, dễ chịu. Những cơn lo đầu mùa tràn về trên các triền sông Sài Gòn, sông Bé, nước đổi màu và dòng chảy trở nên hung dữ, một dấu hiệu trở ngại cho cuộc vận động tiến công.
Đợt hoạt động hè bắt đầu. Các sư đoàn chủ lực của ta có sự điều chỉnh đội hình để phù họp với thực tiễn lúc đó. Sư đoàn 1 chỉ để một trung đoàn hoạt động trên đường số 13, sư đoàn 7 lùi về Chơn Thành (khu vực Thị Tính, Ninh Hòa), sư đoàn 5 lùi lên bắc Biên Hòa để lại một trung đoàn đứng chân ở Xuân Lộc; sư đoàn 9 di chuyển về Bên cầu, để sau đó tham gia đánh các trận Chà Là, Chà Phí, uy hiếp Trảng Lớn.
Chiến tranh ở đây từ lâu không còn sôi động theo mùa nữa, và cũng đã mất đi câu hỏi quen thuộc trước đây thường đặt ra: Mùa mưa là gì?
Công việc chuẩn bị chiến đấu của chung mặt trận Đông Nam Bộ, của riêng lực lượng đặc công lại rộ lên theo yêu cầu của đợt hoạt động cao điểm mùa hè.
Một cuộc họp Bộ tư lệnh đặc công Miền (kiêm Bộ tư lệnh lữ đoàn đặc công 429) được tiến hành ngay khi mùa mưa mới bắt đầu, nhằm quán triệt ý định của Bộ tư ỉệnh Miền và bàn biện pháp thực hiện. Trong bão lửa tháng 5, đặc công được giao nhiệm vụ làm “mũi nhọn” thọc sâu của các sư đoàn chủ lực, đánh phá các căn cứ, kho tàng, hệ thống phòng thủ trong vòng ngoài, phá kế hoạch thay quân của địch; tiếp tục tổ chức tiến công tiêu diệt sinh lực của hai sư đoàn bộ binh số 1 - Anh cả đỏ và sư đoàn kỵ binh bay số 1 Mỹ vừa điều từ miền Trung Trung Bộ vào.
Như vậy là mặt trận chuyển từ tây sang đông, từ đường số 1, đường số 22 sang đường số 13 và đường liên tỉnh 1 (Thủ Dầu Một, Phước Long). Nhìn vào bản đồ chiến sự lúc đó, bạn đọc dễ thấy trên một diện rộng, theo hai trục đường số 13 và đường liên tỉnh 1 với các địa danh Lai Khê, Bến Cát, Chơn Thành, An Lộc, Lộc Ninh, Phước Vĩnh, Đồng Xoài đều là những căn cứ của Mỹ với quy mô và tính chất phòng thủ khác nhau. Đánh vào đâu trong số hàng chục căn cứ Mỹ đó? Vấn đề đặt ra quả thật không dễ, đòi hỏi chúng tôi phải làm việc thật nghiêm túc. Cuối cùng chúng tôi hoàn toàn nhất trí chọn hai mục tiêu dưới đây làm hai điểm thực hành tiêu diệt sinh lực địch:
1. Phước Vĩnh, nằm trên đường liên tỉnh 1, cách thị xã Thủ Dầu Một chừng 40 cây số về phía đông - bắc là căn cứ của sư đoàn bộ binh 1 - Anh cả đỏ.
2. Téc-ních nằm ở ngoại ô thị xã An Lộc trên trục đường số 13, là căn cứ của lữ đoàn 3 thuộc sư đoàn kỵ binh bay số 1.
Hai căn cứ khống chế hai trục đường trên một không gian rộng gồm ba tỉnh Bình Dương, Bình Long và Phước Long. Đánh vào đây vừa nhằm tiêu diệt sinh lực cấp cao của Mỹ, vừa làm rung chuyển hệ thống phòng ngự từ xa, uy hiếp mạnh một mắt xích chủ yếu (Thủ Dầu Một - Bến Cát - Lai Khê) của trung tuyến phía bắc Sài Gòn, gây tác động mạnh về mặt tâm lý tới vùng ven đô và nội đô.
Được Bộ tư lệnh Miền phê chuẩn về điểm tiến công, chúng tôi liền phân công nhau thực hiện. Anh Chín Tùng, phó tư lệnh lữ đoàn trực tiếp chỉ huy tiểu đoàn 5 đánh căn cứ Téc-ních; tôi chỉ huy tiểu đoàn 3 đánh Phước Vĩnh. Đây là hai trận đánh then chốt của đợt hoạt động cao điểm hè, đòi hỏi phải chuẩn bị chu đáo.
Tạm biệt Tây Ninh, chúng tôi đi về hướng đông sang đất Bình Long, Phước Long với khí thế phơi phới của những người vừa chiến thắng ở Đồng Dù, ở Dầu Tiếng trong những đợt hoạt động xuân vừa qua. Không có phát động thi đua, nhưng giữa chúng tôi với tiểu đoàn 5 như có sự hứa hẹn ngầm - phải thắng và nhất định thắng.
Đoàn quân đánh Phước Vĩnh gồm bốn tiểu đoàn, nhiều hơn trận Đồng Dù một tiểu đoàn. Đây là biểu hiện quyết tâm cao của Bộ chỉ huy lữ đoàn. Các anh có ý tạo điều kiện thuận lợi tối đa dể chúng tôi phải hoàn thành nhiệm vụ.
Đêm 9 tháng 5, chúng tôi vượt qua đường số 13 ở vào quãng giữa Bầu Bàng và Bầu Lồng, lại nhớ về những trận đánh Mỹ đầu tiên xảy ra nơi đây hồi tháng 12 năm 1965 do đại tá Hoàng Cầm (nay là thượng tướng) chỉ huy đã giành thắng lợi giòn giã. Quy mô sự kiện tuy nhỏ nhưng giá trị tư tưởng của sự kiện lại lớn. Hồi ấy khi Mỹ đưa quân ồ ạt vào xâm lược miền Nam nước ta, có ý kiến nêu ra: Bây giờ ta nên thế nào, tiến công hay phòng ngự?
Anh Nguyễn Chí Thanh, Bí thư Trung ương cục lúc đó có mặt trên đất miền Đông đã giải đáp chính xác.
- Tiến công! Chỉ có tiến công. - Anh Thanh khẳng định như vậy.
Tư tưởng đó của anh Thanh cũng là tư tưởng cách mạng tiến công của Đảng ta. Nhờ đó ta có Bầu Bàng, Nhà Đỏ, Bông Trang, những địa danh đánh Mỹ và thắng Mỹ đầu tiên, nay đã được ghi vào sổ vàng lịch sử chống Mỹ, cứu nước của dân tộc.
Tư tưởng cách mạng tiến công đó đang thực sư soi sáng nhận thức của chúng tôi, đang tiếp thêm nghị lực và quyết tâm của chúng tôi
Vượt đường số 13 đi được khoảng 10 cây số đã thấy quầng sáng từ Phước Vĩnh hắt lên. Từ đây trở vào là những vạt đồi thoai thoải như cảnh sắc miền trung du ngoài Bắc. Vị trí ém quân là một khu rừng cao su đã cằn, cách Phước Vĩnh ba cây số theo đường chim bay. Đây là một sự lựa chọn táo bạo nhưng không có cách nào khác, chính vì thế mà chúng tôi đã quy định nghiêm ngặt về kỷ luật ém quân.
Ngày 10, 11 sau khi điều nghiên xong, chúng tôi họp cán bộ chỉ huy các tiểu đoàn thảo luận quyết tâm. Khuynh hướng nói chung là nôn nóng muốn đánh ngay nhân đà thừa thắng, cán bộ, chiến sĩ đang có khí thế. Khác với tiến công Đồng Dù, kế hoạch tác chiến ở đây cần phải có tiến độ sít sao hơn. Lực lượng cắt rào vào trước, khi lực lượng nầy bắt đầu thực hiện cắt rào mở cửa thì lực lượng tiến công từ vị trí tập kết xuất quân, không chờ lực lượng cắt rào trở ra đón để hạn chê bớt sơ suất trong giai đoạn chuẩn bị.
Ngày N dự định là ngày 12 tháng 5, cùng nổ súng phối hợp với trận tiểu đoàn 5 đánh Téc-nich, nhưng chứng tôi không chuẩn bị kịp vì có trục trặc.
Đêm 13 tháng 5, chúng tôi rời vị trí tập kết đi dưới cánh rừng cao su đã trụi lá vì chất độc hóa học của Mỹ, băng qua các vạt đồi lúp xúp. Đêm mờ đục nhưng vẫn hướng về phía quầng sáng Phước Vĩnh mà đi tới. Đội hình đi rất nhịp nhàng ăn khớp, im ắng không một tiếng động tính nhỏ nào gây cho địch khả nghi. Bỗng một tiếng nổ bất thần, không to lắm cúng đủ sức phá tan cái tĩnh mịch của đêm khuya.
- Tiếng nổ ở đâu, ta hay địch? - Tôi hỏi.
- Báo cáo, ta!
Một lát sau mới rõ là thủ pháo mắc vào cây rừng gây nổ. Lại một bài học phải trả giá bằng máu, ba chiến sĩ chết. Nhưng đâu phải đã hết. Chỉ mấy phút sau đó địch phản ứng liền, giội đạn pháo vào nơi có tiếng nổ phát ra, kèm theo là tiếng máy bay trực thăng vè vè trên đầu, rất thấp, thả pháo sáng, bắn xăm ngăn chặn, bịt các ngả đi vào Phước Vĩnh.
Một tình huống gây cấn ngoài dự kiến!
Dừng lại ư? Biết bao giờ địch ngừng bắn để tiếp tục tiến. Như thế sẽ ảnh hưởng đến giờ G của trận đánh. Nguy hiểm hơn là ở đây nếu trời sáng, sẽ lộ, địch bổ vây cất vó. Phải tiếp tục hành quân, không dừng lại, càng không thể lùi lại được nữa. Chỉ có vượt nhanh qua vùng pháo địch bắn, đi về phía trước.
Đoàn quân đã vượt qua vòng nguy hiểm, nhưng đến cách mép rào ngoài cùng của căn cứ khoảng 500 mét thì đúng lúc địch bắn chặn rất dữ dội như chúng biết chúng tôi đang có mặt nơi đây. Đã có thương vong. Tình hình càng trở nên phức tạp, xa xa về phía sau, nơi phát ra tiếng nổ vẫn có pháo địch bắn, máy bay trực thăng vũ trang vẫn bay lượn.
Đầu óc tôi căng thẳng. Tiểu đoàn 5 nổ súng đánh Téc-ních từ hôm qua, chắc là thắng lợi, còn chúng tôi đã chậm mất một ngày, tác dụng hỗ trợ nhau như vậy là không hoàn thành, giờ này vẫn còn đang lúng túng ngay trước căn cứ của địch.
Một quyết định được cân nhắc kỹ, tôi cho đội hình tiến lên, áp sát vào hàng rào căn cứ. Vừa lúc đó lực lượng cắt rào cử người ra báo: Đã cắt xong 11 cửa như kế hoạch đã định.
Tin vui mừng đó đến thật đúng lúc. Đội hình tiến công lập tức triển khai có mặt đầy đủ ở 11 cửa mở chờ lệnh. Căn cứ Phước Vĩnh hiện rõ trước mặt mọi người. Không bằng Đồng Dù ở quy mô, ở nhà cửa xây cất, tất cả mang đậm nét dã chiến, nhưng hệ thống công sự, vật cản ở đây thì có phần cẩn mật hơn Đồng Dù.
Chỉ còn 15 phút nữa ỉà đến giờ G thì một loạt pháo địch bất thần chụp lên đội hình tiến công. Tình huống buộc chúng tôi phải mở rộng đội hình sang hai bên để tránh pháo địch sát thương. Đêm khuya đã chuyển dần về sáng, Không còn cách nào khác buộc chúng tôi phải quyết đoán tức thì, rút ra thật êm và thật nhanh, bảo đảm an toàn cho đội quân để bày keo khác.
Cả hôm sau chúng tôi giấu mình trên một vạt đồi với những cây lúp xúp lẫn lồ ô và cỏ lác, cách Phước Vĩnh hơn 10 cây số về phía bắc, xế hướng Đồng Xoài. Qua một đêm trắng với bao nỗi gay cấn ập đến khiến đầu óc căng thẳng, toàn thân mệt nhoài, vậy mà ngày hôm nay - một ngày vắng bóng mặt trời, mây vần vũ như cái màn gió khổng lồ tỏa xuống râm mát, nhưng tỏi vẫn không sao chợp mắt được. Đầu óc lởn vởn câu hỏi tại sao pháo địch bắn chặn đúng đội hình, vì ngẫu nhiên hay vì lý do gì?
Giữa lúc câu hỏi tại sao đang đặt ra một cách gay gắt chưa có lời giải đáp thì cơ sở của ta cho biết: Đêm qua các anh bị pháo địch bắn chặn, phải rút ra vì căn cứ này mới có máy nghe tiếng động...
Chúng tôi nhẹ nhõm thở phào, thần kinh chùng xuống, đầu óc thanh thản dần vì biết được nguyên nhân khách quan, giải đáp được một câu hỏi đang day dứt trong tâm trí.
- Máy cấu trúc thế nào, có kiếm được không? - Tôi hỏi.
- Dạ được, nhưng phải có tiền.
- Mua à? - Tôi hỏi lại.
- Dạ...
Hôm sau cơ sở mang ra một cái máy nghe tiếng động có hình thù gọn, nhẹ. Thế lá chúng tôi tập trung những đồng chí am hiểu chút ít về kỹ thuật, làm nhiệm vụ nghiên cứu tìm hiểu nguyên lý cấu tạo và cách vận hành của máy để chống nó chứ không có tham vọng chế tạo nó. Trận đánh căn cứ Phước Vĩnh không thành đang là cái hận và sự căm tức lúc này được dồn vào nơi cái máy vô tri vô giác đang nằm tênh hênh trước mặt mọi người. Xoay tới xoay lui, cuối cùng chúng tôi đã khám phá ra bí mật của máy. Tất cả chỉ tại cái cần ăng tên bằng thép mỏng như lá lúa. Tiếng động phát ra được thu vào ăng ten rồi được các bộ phận trong máy khuếch đại ra truyền về trung tâm căn cứ. Tôi nhớ đến hình thù con gián có hai cái râu, đi đâu râu cũng vểnh lên, ruỗi về phía trước, đung đưa phát hiện vật cản. Ngắt râu là hoạt động của gián gặp khó khăn. Máy nghe tiếng động cũng vậy, chỉ cần phá ăng tên là máy trở thành vô dụng.
Mày mò ra vấn đề, bộ phận “chuyên viên” kiến nghị cách xử trí:
- Nếu bò vào được hàng rào mà phát hiện có máy nghe tiếng động thì chỉ việc lẹ làng bẻ ngay cái ăng ten là mọi việc êm.
- Khi chưa phát hiện được nó, thì cách chống tốt nhất là im lặng, tuyệt đối im lặng. Kỹ thuật tiềm nhập lẹ làng, kế hoạch tiềm nhập ăn khớp đến mức không phát ra một âm thành đủ gây cảm ứng của ăng ten cũng là cách vô hiệu hóa máy nghe tiếng động.
Đơn vị phấn khởi trở lại. Đã tìm thấy thắng lợi ngay trong thất bại. Từ nay máy nghe tiếng động không còn là điều lo ngại nữa. Nhưng riêng tôi, với trách nhiệm của người chỉ huy nỗi trăn trở vẫn chưa dứt.
Địch ở Phước Vĩnh đã có sự đề phòng, chưa thể đánh ngay được!
Hướng Téc-ních như vậy là ngon rồi, tiểu đoàn 5 do anh Chín Tùng chỉ huy giờ này chắc đang hân hoan về trận đấu đánh bại lữ đoàn 3 của sư ky binh bay số 1 - niềm kiêu hãnh của nền công nghiệp quốc phòng Mỹ, một phát kiến có hạng của bộ trưởng quốc phòng Mắc Na-ma-ra - người được xem là có bộ óc điện tử sống của nước Mỹ thời đó.
Tôi đánh điện chào mừng thắng lợi và hứa học tập đơn vị bạn. Anh Chín Tùng đã điện trả lòi - báo nhận đủ.
Càng thành tâm chúc mừng bạn, tôi càng trăn trở day dứt. Như vậy là trên hướng tỉnh lộ 1 cả hai điểm đều không thành công. Phước Vĩnh nếu không ra nhanh thì bị thương vong, còn điểm Bù Na, căn cứ chiến đoàn biệt kích hỗn hợp Mỹ - ngụy do sư đoàn 5 phụ trách cũng không thành vì bị lộ.
Tháng 5 đã trôi qua nhanh. Mưa ở Đông Nam Bộ thuộc nửa phần phía đông hình như xối xả hơn nửa phần phía tây. Sông Bé quanh co uốn khúc càng trở nên dữ dằn và khó vượt qua. Suy tư của tôi vẫn xoáy sâu vào hận Phước Vĩnh. Đợt hoạt động cao điểm mùa hè thời gian còn lại không nhiều, sự thôi thúc của nhiệm vụ chưa tròn càng bắt tôi phải suy nghĩ. Đi chiến đấu mà về không thì thật ngán! Biết nói thế nào với cấp trên, cho dù là có lý do đầy đủ cũng thấy nó thế nào ấy.
Đội hình chiến sĩ của chúng tôi len qua các cánh rừng lồ ô, qua Đồng Xoài sang đứng chân ở Thuận Lợi, một cánh rừng cao su thuộc đồn điền cao su Phú Riềng - nơi nổ ra cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân dưới sự lãnh đạo của Đảng ta khởi xuất từ năm 1930. Bất giác tôi lại nghĩ về Bù Na, ở đó địch đang rất chủ quan, ngạo mạn sau khi sư đoàn 5 của ta phải rút ra vì bị lộ. Ta có thể lợi dụng sự chủ quan của địch để tạo sự bất ngờ.
Tôi họp các đồng chí chỉ huy tiểu đoàn và đại đội trình bày những suy nghĩ trên. Nào ngờ các đồng chí này cũng có cùng suy nghĩ như tôi. Tất cả đều nhất trí nhanh, đề nghị tranh thủ thời gian cho đơn vị hành quân ngay đêm nay.
Dựa vào đường mòn của các đơn vị đã đi, đồng thời băng rừng, vượt núi theo hướng bắc, chúng tôi phải đi mất hai ngày mới tới Bù Na, ém quân cách địch khoảng hai cây số để tổ chức chiến đấu. Các đồng chí tỉnh đội Phước Long đã giúp chúng tôi rất nhiều trong việc điều nghiên nắm địch. Phần còn lại của chúng tôi trong công việc này chỉ là nghiên cứu đường tiềm nhập, định số lượng cửa mở và cắt rào. Quy mô căn cứ Bù Na tất nhiên là nhỏ nhiều so với Phước Vĩnh, nhưng vì ở vùng giáp ranh sát biên nên công sự ở đây lại kiên cố. Sự hình thành hệ thống phòng thủ ở đây vừa, mang tính chất một căn cứ, vừa thể hiện tính chất cụm cứ điểm liên hoàn. Với lối đánh đặc công thì công sự kiên cố đã có biện pháp giải quyết, vấn đề là cần nắm chắc hệ thống cấu trúc chung và tính chất riêng lẻ của mỗi loại mới là điều đáng quan tâm. Một thuận lợi đáng kể là địa hình vùng Bù Na thuộc loại rừng cây mọc trên đồi núi nhấp nhô, nhiều khe suối, thuận tiện cho tiềm nhập, điều nghiên, cho ém quân vừa kín lại vừa gần với mục tiêu tiến công.
Lực lượng trinh sát điều nghiên cũng phải qua hai đêm ra vào, đếm từng bờ tường lô cốt, đếm từng hàng rào và ước lượng diện tích các bãi vật cản; xác định xem có máy nghe tiếng động hay không. Bài học Phước Vĩnh đã nhắc chúng tôi phải thực sự quan tâm đến nó.
Ngày hôm sau, trên sơ đồ thu gọn được thể hiện rất công phu của tổ trinh sát điều nghiên, chúng tôi tiến hành họp hội nghị cán bộ cấp tiểu đoàn, đại đội để thảo luận cách đánh cụ thể. Trên cơ sở kết quả điều nghiên, chúng tôi quyết định tổ chức thành năm mũi tiến theo năm cửa mở (do lực lượng cắt rào chịu trách nhiệm), trong đó hai cửa nam và đông - nam là hướng chủ yếu. Tuy phải qua một nhánh của sông Bé mùa này nước đầy, chảy xiết, khó đi, nhưng đã qua được hàng rào thì từ hướng này lại phát triển thuận lợi, đánh thẳng vào sở chỉ huy chiến đoàn và khu trung tâm Thông tin làm rung chuyển toàn bộ khu căn cứ ví như rắn mất đầu và cắt đứt được sự liên hệ ở đây với các căn cứ xung quanh, nhất là với chi khu Phước Long. Nửa phần lực lượng còn lại được chia thành hai bộ phận: Bộ phận chặn viện và bộ phận lo công tác hậu cần, tiếp tế.
Công tác chuẩn bị cho giờ xuất phát tiếp cận cân cứ cũng được song song chuẩn bị. Phải thật chú ý tránh rơi vãi trong khi vận động. Bài học đã phải trả giá khác nhau về sự chuẩn bị chưa thật tỉ mỉ, chưa để ý đến các khâu, các việc tuy nhỏ rất nhỏ nhưng gây hậu quả lớn, như thắt bao lựu đạn chưa chắc chắn, dây gây nổ chưa gọn, còn lòng thòng để vướng gây thành tiếng nổ, vừa xảy thương vong không cần thiết, vừa như “lạy ông tôi ở bụi này”, dẫn tới bao diễn biến không lường kéo theo, dẫn tới trận tiến công Phước Vĩnh không thành. Vì vậy tất cả mọi khâu đều được các cấp quan tâm kiểm tra chu đáo.
Ngày 20 tháng 6 đã đến. Nằm ở địa điểm ém quân cách Bù Na chưa đầy hai cây số, chúng tôi cứ thấp thỏm, bồn chồn, chốc chốc lại so đọ đồng hồ, hết theo động tỉnh nơi căn cứ Bù Na, lại nhìn hướng thị xã Phước Long - một phố thị mang đậm cảnh sắc vùng biên với nhà cửa thấp bé lưa thưa trên các vạt đồi bốn bề đều là sông suối. Xa nữa về phía đông - nam là dãy núi Bà Rá hùng vĩ, cây cối rậm rạp, trên đỉnh dãy núi là nơi đặt trạm truyền tin ra đa của Mỹ với những dàn ăng ten to, cao vút. Bất giác tôi lại nghĩ về trận đánh đêm nay. Kế hoạch như vậy thật đã ổn chưa, còn cần gì phải bổ sung? Bởi Bù Na đâu phải là một căn cứ tiền đồn riêng lè, biệt lập mà nó nằm trong hệ thống phòng thủ từ xa theo thế liên hoàn, có tiểu khu Phước Long hỗ trợ, có trạm truyền tin ra đa Bà Rá báo về Sài Gòn những tin tức, những yêu cầu cần chi viện; và cũng rất nhanh, không quân Mỹ từ sân bay Biên Hòa, Tân Sơn Nhất ập tới cứu nguy. Để đến cơ sự như vậy thì trận đánh không còn nằm trong khái niệm tác chiến đặc công nữa. Tôi cho đơn vị kiểm tra các động tác đóng gói, buộc chằng, nhắc phải giữ nghiêm kỷ luật giấu mình - ém mình.
Sự căng thẳng cũng tính từng phút từng giờ. Chúng tôi đã tính đến các tình huống: địch biết do ngẫu nhiên, tình cờ, cũng có thể do mạng lưới biệt kích, thám báo phát hiện ra nơi chúng tôi ém quân. Tất nhiên là chúng tôi tìm cách dập tắt như dập tắt đám cháy không cho lan rộng. Sẽ quây lại bắt gọn, làm êm chờ trời tối hãy hay.
Mặt trời lặn, hoàng hôn lan nhanh ở nơi chiến trường rừng núi. Thế là an toàn rồi. Thắng lợi đang trong tầm tay rồi! Thành công của ém quân là thắng lợi đã giành được phân nửa. Tất cả thấy nhẹ nhõm như vừa trút được một gánh nặng vô hình. Khỏi lo sự cố bất trắc. Đèn trong căn cứ Bù Na bật sáng càng là một định hướng rất tốt, để một vài giờ nữa là chúng tôi sáp vô, không lạc đích.
Theo kế hoạch, tôi dẫn hai đội đi vào hướng chủ yếu. Vượt qua con suối, chúng tôi đã đến một doi đất cao mà bằng. Qua hàng rào, chủng tôi nhìn rõ sở chỉ huy chiến đoàn, điện sáng hơn các nhà xung quanh. Từ đây vào đó rất gần, chỉ còn độ 500 mét. Căn cứ yên ắng không động tĩnh. Đúng như các đồng chí trinh sát báo cáo: địch ở đây ngủ nhiều và ngủ say. Có lẽ địch vẫn rất yên tâm về sự việc sư đoàn 5 của ta phải bỏ cuộc, gây ra ngộ nhận về sức mạnh bất khả xâm phạm của vũ khí - hỏa lực Mỹ.
Kế hoạch ấn định đúng 12 giờ đêm nay sẽ nổ súng nhưng chỉ mới 11 giờ các mũi đã vô hết hàng rào cuối cùng. Nếu nằm chờ một tiếng nửa mới khởi sự thì rất không có lợi, tránh sao khỏi sơ suất nào đó có thể xảy ra. Và như vậy ta sẽ roi vào thế bất lợi.
Cuối cùng, tính toán đi lại, cân nhắc đầy đủ, tôi quyết định cho nổ súng trước giờ G quy định là một giờ.
Một phát đạn K.54 được bắn lên hạ lệnh tiến công.
Sở chỉ huy và khu thông tin của căn cứ là mục tiêu đánh trước đã hoàn thành. Mối liên hệ với chi khu Phước Long, với trạm truyền tin Bà Rá đã bị cắt đứt, khiến chúng tôi bớt phân tán trong lo toan điều khiển trận đánh, chỉ tập trung vào các vấn đề tại chỗ. Không có lửa cháy và không có tiếng hô hối thúc xung phong, tất cả diễn ra êm ngọt, người nào việc ấy, mũi nào hướng ấy tự mình giải quyết. Khi quân địch tỉnh dậy thì đã thấy các chiến sĩ của tiểu đoàn 3 và tiểu đoàn 7 thuộc lữ đoàn 429 đặc công Đông Nam Bộ đứng kề bên. Chúng chẳng còn làm gì được nữa ngoài sự chấp nhận thất bại và giơ tay xin hàng.
Bù Na, căn cứ chiến đoàn hỗn họp Mỹ - ngụy đã bị đánh phá với một tương quan không cân xứng về số lượng. Chúng tôi chỉ có 95 cán bộ, chiến sĩ, chọi lại với hơn 1.300 quân địch có công sự hầm hào, có vật cản bảo vệ.
Hận Phước Vĩnh đẫ được rửa. Chúng tôi điện báo cáo kết quả về Bộ tư lệnh Miền ngay trong đêm.
Hai hôm sau, tại một cánh rừng trên trục đường số 13, chúng tôi nhận được điện khen của Bộ tư lệnh Miền, với tấm Huân chương Quân công hạng ba.
Tất nhiên là không có kẹo, có trà để liên hoan đón nhận phần thưởng, vì chiến tranh ở vào thời điểm này cực kỳ ác liệt Nhưng chúng tôi vẫn vui, cái vui từ đáy lòng mình, nó còn được tiếp sức, bắt nguồn từ bài học mà chúng tôi rút ra - có tư tưởng tiến công thì sẽ tìm ra và lợi dụng được sơ hở của kẻ địch, sẽ có cách đánh hiệu qua. Từ Phước Vĩnh chuyển sang Bù Na, chúng tôi đã đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ của Miền đề ra trong đợt cao điểm hè 1969.



