TỪ TRẬN ĐÁNH ĐẦU TIÊN (1)
Năm 1962, từ xã Thuỵ Hương, huyện Kiến Thuỵ, thành phố Hải Phòng, theo bố mẹ lên xã Quang Kim, huyện Bát Xát, Lào Cai khai hoang, tôi tiếp tục đi học khi mới 13 tuổi. Chỉ còn hai tháng nữa là tôi thi tốt nghiệp phổ thông cấp III, thì ngày 20/4/1970 được lệnh lên đường nhập ngũ. Sau một thời gian huấn luyện, chúng tôi hành quân đi chiến trường, bổ sung vào Trung đoàn 866 quân tình nguyện đang làm nghĩa vụ quốc tế trên chiến trường Cánh Đồng Chum, tỉnh Xiêng Khoảng, nước bạn Lào.
Hơn một năm làm nhiệm vụ ở đại đội vận tải trung đoàn, dù không phải trực tiếp chiến đấu nhưng chúng tôi thường phải bí mật luồn sâu vào địch hậu tiếp tế lương thực, vũ khí cho các đơn vị chiến đấu trong lòng địch và khiêng cáng thương binh, tử sĩ về hậu cứ. Có những chuyến luồn sâu cả tháng ròng tới giáp Long Chẹng, sào huyệt của tướng phỉ Vàng Pao hay căn cứ Bom Lộng. Tiếng là lính vận tải nhưng nhiều khi không còn gạo, hết lương khô, đành hạ ba lô hái rau, đào củ rừng cho cái dạ dày đỡ kêu xèo xèo đòi tiếp tế. Đế quốc Mỹ ỷ thế giàu không tiếc đạn bom nên liên tục viện trợ cho quân Vàng Pao oanh tạc và gài mìn lựu đạn khắp các đường mòn trên Cánh Đồng Chum rộng lớn. Vì vậy không ít lần đi gùi hàng chúng tôi bị máy bay ném bom vào đội hình, hay bị vấp mìn, lựu đạn địch gài trên đường đi.
Từ tháng 5 năm 1972, đất nước Lào bước vào mùa mưa cũng là lúc quân ta chuyển sang chiến dịch phòng ngự với quyết tâm bảo vệ vùng giải phóng Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, giữ vững thế chiến lược, phối hợp với cuộc tiến công ở chiến trường Trị Thiên và Bắc Tây Nguyên. Để giữ vững thế phòng ngự, Trung đoàn 866 thành lập thêm hai tiểu đoàn chiến đấu. Tôi và đồng chí Phan Văn Quang được điều về đại đội đặc công 24, nằm trong biên chế của tiểu đoàn 8 vừa được thành lập. Lúc 11h30 ngày 1/7/1972, vừa đặt chân đến đơn vị đang đóng ở chân núi Phu Huội Sạng, tôi được đồng chí Ngô Văn Cận, trung đội phó giao cho khẩu súng B40. Anh hướng dẫn tôi cách cầm súng, cách lắp liều phóng và lắp đạn vào súng, rồi dặn tôi nếu mục tiêu là xe tăng, hay ô tô của địch đang chạy, phải ước lượng được độ dài của xe và ngắm bắn đón về phía trước chừng hai hoặc ba thân xe mới trúng mục tiêu. Còn nếu là lô cốt hay đội hình địch thì chỉ cần ngắm thẳng vào đó. Trung đội phó còn nhắc đi nhắc lại dù nằm, ngồi hay đứng bắn đều phải lựa phía sau lưng chừng 5 mét trở ra không bị vật cản, nếu không, lửa và sức nóng của liều phóng phụt ra phía sau sẽ phản ngược lại thiêu sống chính mình. Vác khẩu B40 và đeo 3 quả đạn về nơi mắc võng, tôi vừa ôn lại bài học bằng mồm của trung đội phó, vừa giương súng luyện tập. Những ngày sau đó, anh hướng dẫn tỷ mỉ hơn, tôi mới biết sử dụng súng B40 không hề đơn giản như AK và các loại súng bộ binh khác. Khi nổ, đạn B40 có nhiệt độ lên tới hơn 2.000 độ C, khả năng làm chảy thép dày tới 18 cm. Nếu bắn mục tiêu vận động ngang phía mình thì súng phải vác ở tư thế nằm ngang vì thước ngắn hình thang mới bắt được mục tiêu địch. Khi bắn ở tư thế vác vai, mỗi xạ thủ chỉ được bắn hai qủa, nếu không sẽ bị thủng màng nhĩ vì tiếng nổ của liều phóng trong nòng rất lớn nên bao giờ khi bắn cũng phải dùng bông nút tai để giảm bớt tiếng đề pa nổ. Nếu là bắn ứng dụng cầm ngang thắt lưng cũng chỉ bắn được nhiều nhất là 5 quả.
Sau chừng hai tiếng đồng hồ tôi tự ôn luyện thì một giờ chiều, đài quan sát báo về có 3 ô tô chở hàng của địch có quân đi theo hộ tống đang từ Hin Tặng ở hướng Tây đi vào khu vực đại đội tôi phòng ngự. Cả đại đội được chia làm 3 mũi phục kích cánh nhau chừng 50 mét đồng thời sẵn sàng vận động tiêu diệt bộ binh địch. Mũi 3 do đồng chí Hoàng Văn Sinh quê Hải Phòng đồng hương với tôi có nhiệm vụ khóa đuôi, không cho địch quay lại. Mũi hai do đồng chí Hoàng Văn Cận - Trung đội phó chỉ huy có nhiệm vụ nổ súng vào giữa đội hình địch. Tôi được giao nhiệm vụ chiến đấu dưới sự chỉ huy trực tiếp của đồng chí Hoàng Văn Thành, người Tày Cao Bằng là đại đội trưởng ở mũi 1 đón đầu đoàn xe địch. Đây là mũi chủ công đồng thời là mũi phải phát hỏa đầu tiên nên do đại đội trưởng trực tiếp chỉ huy.
Chừng một giờ sau, từ phía rừng ven Cánh Đồng Chum, có tiếng súng, tiếng lựu đạn, phóng lựu của địch rộ lên. Trên đầu chúng tôi, máy bay L19 lượn đi lượn lại trinh sát đồng thời có cả máy bay AD.6 xuất hiện. Trên đường ô tô nơi chúng tôi phục kích xen với tiếng nổ của các loại đạn địch là tiếng máy ô tô gầm gừ tiến lại gần. Ngồi trên ô tô, bọn địch đi hộ tống liên tục bắn ra xung quanh, đạn bay chiu chíu quanh người chúng tôi. Khi chỉ cho tôi vị trí nằm xuống tránh đạn địch và chờ lệnh bắn, đại đội trưởng nói nhỏ: “Chúng nó bắn vu vơ cảnh giới chứ không phát hiện mình phục ở đâu, đồng chí cứ bình tĩnh!”
Chiếc xe thứ nhất, thứ hai rồi chiếc xe thứ ba đi cuối cùng lọt vào đội hình chúng tôi phục kích. Đúng lúc chiếc xe đầu tiên dẫn xác vào vị trí mũi tôi đang phục, đại đội trưởng ra lệnh: B40 bắn! Ngắm đón trước mục tiêu như đồng chí Cận hướng dẫn, tôi bóp cò bắn trúng chiếc xe đi đầu. Cùng lúc, ở hai mũi kia, tiếng súng cũng rộ lên. Cả ba chiếc xe bị tiêu diệt, toàn đại đội chúng tôi (gọi là đại đội nhưng tất cả chưa đầy 20 tay súng) xung phong. Bọn địch trên xe đứa bị tiêu diệt, đứa bỏ chạy thục mạng. Ngoài tiêu diệt được 3 xe và nhiều tên địch, chúng tôi còn thu được chiến lợi phẩm gồm, gạo, thực phẩm và vũ khí của địch. Trận chiến đấu kết thúc thắng lợi.
Từ khi tôi xuống đại đội chiến đấu, phòng ngự ngăn cản địch hàng tháng trời trên các chốt, bị máy bay địch đánh phá, bị bộ binh địch tấn công. Tôi đã trực tiếp tham gia 7 trận đánh vận động và đánh tập kích vào các chốt địch. Nhưng trận đánh đầu tiên diệt xe địch đã thành kỷ niệm sâu sắc nhất trong đời tôi trực tiếp cầm súng chiến đấu. Lần đầu tiên tôi mới dùng hỏa lực B40 dù chưa được huấn luyện chu đáo nhưng diệt được xe ô tô của địch và được tặng danh hiệu dũng sĩ. Đây chính là tiền đề để ngày 14/12/1972, tôi vinh dự được kết nạp vào Đảng.
Bị thất bại nặng nề nên, Đế quốc Mỹ đã phải Chính phủ Hoàng gia Lào ký kết hiệp định đình chiến trên toàn lãnh thổ Lào vào 12 giờ trưa ngày 22/ 2/1973 theo Hiệp định Viêng Chăn. Tuy nhiên cả Trung 866 quân tình nguyện vẫn phải tiếp tục chiến đấu chống địch nống lấn ra vùng giải phóng. Ngày 8/4/1973, với cương vị trung đội phó, chỉ huy trung đội đi nắm tình hình ở khu vực Tha Thơm, không may tôi dẫm phải mìn díp của địch gây dập nát, gây hoại tử chân phải, không bảo tồn được, chỉ có cách cắt bỏ mới bảo toàn được tính mạng.
Sau một thời gian về nước an dưỡng, mang theo thẻ thương binh tỉ lệ thương tật 61%, Thương binh hạng 2/4, tôi lớn lên trên quê hương thứ hai là Lào Cai, sau xuất ngũ tôi được chuyển ngành về Ty Thương binh xã hội tỉnh, (sau là Sở Lao động - Thương binh xã hội) rồi sang Bảo hiểu xã hội tỉnh. Dù ở cương vị nào tôi cũng luôn luôn phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ, thực hiện theo lời Bác Hồ dạy: “Thương binh tàn nhưng không phế”.



