Anh hùng Lực lượng vũ trang

Từ trận đánh đơn độc đến nghệ thuật lấy mưu thắng mạnh

Họ và tên: Huỳnh Tiền Phong. Sinh ngày: 01/12/1946. Tham gia du kích địa phương khi khoảng 16 tuổi. Địa bàn chiến đấu tiêu biểu: Tây Nam Bộ, trong đó có Giá Rai và U Minh. Lực lượng, cương vị tiêu biểu: đặc công huyện Giá Rai; sau này là cán bộ chỉ huy Tiểu đoàn U Minh 3. Nhóm nhân vật: Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Danh hiệu: được Chủ tịch nước quyết định phong tặng ngày 26/12/2025 vì thành tích đặc biệt xuất sắc trong kháng chiến chống Mỹ. Giai đoạn lịch sử trọng tâm: 1964–1975.

Quảng Ninh12/08/2026Huỳnh Phương Uyên (Bắc Ruộng)5 lượt xem0 lượt chia sẻ

hiến trường Tây Nam Bộ trong kháng chiến chống Mỹ có địa hình sông rạch, đồng ruộng và căn cứ phân tán. Hoạt động của lực lượng vũ trang địa phương thường phải dựa vào bí mật, cơ động, nắm chắc địa bàn và sự hỗ trợ của nhân dân. Trong điều kiện lực lượng và hỏa lực có lúc chênh lệch, yêu cầu đặt ra không chỉ là dũng cảm mà còn phải biết chọn thời cơ, đánh vào điểm yếu và kết hợp tác chiến với vận động đối phương.

Huỳnh Tiền Phong tham gia lực lượng địa phương từ tuổi thiếu niên và sớm làm quen với nhiệm vụ trinh sát, đặc công. Báo Quân đội nhân dân cho biết trong quá trình chiến đấu và chỉ huy ở Tây Nam Bộ, ông trực tiếp tham gia hoặc chỉ huy hàng trăm trận, nhiều lần bị thương. Những trải nghiệm ấy hình thành ở ông cách đánh coi trọng quan sát, chuẩn bị và tận dụng điều kiện địa hình thay vì chỉ dựa vào sức mạnh hỏa lực.

Sau chiến tranh, ông tiếp tục công tác trong quân đội, trưởng thành đến cấp bậc Trung tướng. Năm 2025, Chủ tịch nước quyết định phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân cho ông, ghi nhận những thành tích đặc biệt xuất sắc trong kháng chiến chống Mỹ.

Tháng 10/1964, khi là cán bộ đặc công huyện Giá Rai, Huỳnh Tiền Phong thực hiện một trận đánh tại đồn Cả Rắn. Theo hồ sơ của Báo Quân đội nhân dân, ông mang theo số vũ khí gọn nhẹ, bí mật tiếp cận mục tiêu và tự mình xử lý tình huống khi kế hoạch đòi hỏi sự quyết đoán. Kết quả trận đánh thể hiện khả năng tiếp cận gần, chọn đúng thời điểm và rút khỏi khu vực sau khi hoàn thành nhiệm vụ.

Năm 1972 tại Kinh Đứng, trên cương vị chỉ huy Tiểu đoàn U Minh 3, ông lại sử dụng một cách tiếp cận khác: kết hợp nghi binh, tạo sức ép tâm lý và địch vận. Một mô hình hỏa lực giả được dùng để làm đối phương đánh giá sai tương quan lực lượng; cùng với vận động, biện pháp này góp phần buộc một bộ phận đối phương hạ vũ khí và giúp đơn vị thu được trang bị. Hai câu chuyện ở hai thời điểm cho thấy sự chuyển biến từ lòng dũng cảm cá nhân sang nghệ thuật tổ chức, dùng mưu và tiết kiệm xương máu.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn