TÙ TRƯỞNG N’TRANG LƠNG HUYỀN THOẠI VỀ MỘT NGƯỜI ANH HÙNG NƠI ĐẠI NGÀN
Cách đây hơn một thế kỷ, trên vùng đất Tây Nguyên hùng vĩ đã bùng lên một cuộc kháng chiến trường kỳ của đồng bào M’Nông chống thực dân Pháp xâm lược. Dưới sự lãnh đạo của tù trưởng N’Trang Lơng (Bă Trang Lơng), phong trào đấu tranh kéo dài suốt 24 năm, từ năm 1912 đến đầu năm 1935, để lại một trang sử rực rỡ về lòng yêu nước và tinh thần đoàn kết quật cường của các dân tộc nơi đại ngàn.

TÙ TRƯỞNG N’TRANG LƠNG - HUYỀN THOẠI VỀ MỘT NGƯỜI ANH HÙNG NƠI ĐẠI NGÀN
Cách đây hơn một thế kỷ, trên vùng đất Tây Nguyên hùng vĩ đã bùng lên một cuộc kháng chiến trường kỳ của đồng bào M’Nông chống thực dân Pháp xâm lược. Dưới sự lãnh đạo của tù trưởng N’Trang Lơng (Bă Trang Lơng), phong trào đấu tranh kéo dài suốt 24 năm, từ năm 1912 đến đầu năm 1935, để lại một trang sử rực rỡ về lòng yêu nước và tinh thần đoàn kết quật cường của các dân tộc nơi đại ngàn.
Cuộc khởi nghĩa lan khắp cao nguyên
Phong trào kháng chiến do N’Trang Lơng lãnh đạo diễn ra trên địa bàn rộng lớn, gần như bao trùm toàn bộ vùng cao nguyên Nam Đông Dương. Từ cao nguyên Lang Biang của người M’Nông R’Lăm đến tả ngạn sông Mekong của người M’Nông Khơme; từ chân núi Pleiku của người Gia Rai, Ba Na xuống đến cao nguyên Di Linh của người Mạ, Kơ Ho, S’Tiêng. Trung tâm hoạt động của nghĩa quân là cao nguyên M’Nông, vùng đất trải dài qua Trung Kỳ, Nam Kỳ và cả Campuchia – nơi vốn có truyền thống đấu tranh lâu đời trước sự uy hiếp của các thế lực ngoại xâm.
Theo tư liệu, N’Trang Lơng sinh khoảng năm 1870 tại Buôn Bupar, dưới chân núi Nam Drôn, thuộc khu vực suối DakNha. Từ nhỏ, ông đã nổi tiếng nhanh nhẹn, dũng cảm, luôn giúp đỡ mọi người. Khi trưởng thành, được nghe kể về các vị tù trưởng anh dũng như Ama Jhao, N’Trang Gưh, ông càng nuôi dưỡng ý chí chống ngoại xâm. Dáng người nhỏ bé nhưng khuôn mặt to, giọng nói vang vọng, ông được dân làng kính trọng, thậm chí thần thoại hóa như một huyền thoại giữa đại ngàn.
Từ năm 1908, sau khi Khunjunob đầu hàng, thực dân Pháp bắt đầu tăng cường thăm dò và thiết lập cơ sở cai trị tại vùng ngã ba biên giới giáp Nam Trung Bộ và Campuchia. Henri Maitre – một nhà thám hiểm người Pháp – trong các chuyến khảo sát từ 1909 đến 1911 đã thu thập nhiều tài liệu và công bố tác phẩm “Les Jungles Moi” năm 1912. Song song với nghiên cứu dân tộc học, ông ta cũng thiết lập cơ sở thực dân, xâm phạm phong tục và quyền lợi của các bộ tộc bản địa. Đây chính là nguyên nhân sâu xa dẫn đến sự bùng nổ của các cuộc nổi dậy do N’Trang Lơng đứng đầu.
Hai năm sau, thực dân Pháp xây dựng đồn Bu Poustra làm cơ quan hành chính. Lợi dụng lúc Henri Maitre về Pháp, binh lính trong đồn đã tấn công bộ tộc Biệt của N’Trang Lơng ở Bu N’Trang, cướp bóc, đốt phá và sát hại vợ con ông. Biến cố đau thương ấy đã thổi bùng ngọn lửa căm thù.
Những trận đánh làm chấn động Đông Dương
Với 150 nghĩa quân trang bị tên nỏ, gươm giáo, N’Trang Lơng mở cuộc tấn công tiêu diệt đồn Bu Poustra, chính thức khởi đầu cuộc kháng chiến kéo dài 24 năm. Từ năm 1912 đến 1914, thực dân Pháp nhiều lần vây ráp, treo thưởng bắt ông nhưng đều thất bại. Đồng bào M’Nông một lòng theo vị tù trưởng của mình, không ai phản bội.
Ngày 29/7/1914, với kế trá hàng do Rơ Ong Leng – em trai N’Trang Lơng – thực hiện, Henri Maitre bị dụ vào buôn Bunor và rơi vào bẫy phục kích, bị tiêu diệt. Sau đó, nghĩa quân tiếp tục giành nhiều chiến thắng như Bu Klir, Bu Thông (1914), Srê Lovi (1922)…
Đến năm 1933, N’Trang Lơng chỉ huy khoảng 200 nghĩa quân tập kích đồn 65, một cứ điểm kiên cố có hầm ngầm và dây thép gai. Sau một ngày giao tranh, quân Pháp rút chạy. Nghĩa quân đánh tan quân cứu viện, giết chỉ huy Leconte. Ngày 26/1/1931, sĩ quan Gatille bị phục kích tiêu diệt tại Snoul (Campuchia), gây chấn động toàn Đông Dương.
Thực dân Pháp liền huy động lực lượng lớn, có pháo binh yểm trợ, mở các cuộc càn quét quy mô vào căn cứ Nâm Nung. Chúng đốt phá buôn làng, triệt nguồn lương thực nhằm dồn nghĩa quân vào thế thiếu đói. Tuy vậy, nghĩa quân vẫn kiên cường chống trả, gây nhiều tổn thất cho đối phương.
Ngày 20/10/1933, nghĩa quân bất ngờ tập kích núi Bà Rá, giết đại úy Morére. Đầu năm 1934, các trận đánh tiếp tục diễn ra tại Bù Có, Bù Na, Căngrôlant. Hàng trăm thanh niên M’Nông gia nhập nghĩa quân, phong trào lan rộng khắp miền Nam cao nguyên.
Đêm 4/3/1935, nghĩa quân tấn công đồn Le Roland trên đất Campuchia, chiếm một phần đồn và gây thiệt hại lớn cho địch. Phong trào kháng Pháp dâng cao, đe dọa nghiêm trọng hệ thống cai trị của thực dân Pháp.
Chùm ảnh tư liệu
Ảnh tư liệu của bài viết.
Sự hy sinh và dấu ấn lịch sử
Giữa tháng 5/1935, thực dân Pháp huy động lực lượng lớn từ nhiều hướng tấn công đại bản doanh nghĩa quân. Trong lúc chiến sự ác liệt, các tù trưởng R’Ong, R’Dinh lần lượt hy sinh. Lương thực, vũ khí cạn kiệt. Đầu mùa mưa năm 1935, trong một trận chiến không cân sức, N’Trang Lơng bị trọng thương và sa vào tay giặc. Ông hy sinh đêm 23/5/1935 (có tài liệu ghi ngày 25/6/1935).
Cuộc khởi nghĩa kéo dài 24 năm tuy bị đàn áp, nhưng tinh thần đoàn kết và ý chí quật cường của N’Trang Lơng đã trở thành nguồn cảm hứng cho các thế hệ người M’Nông, S’Tiêng, Ê Đê, Mạ, Chàm, Kinh, K’ho… tiếp tục đứng lên chống xâm lược.
Nhân kỷ niệm 100 năm phong trào khởi nghĩa (1912–2012), tỉnh Đắk Nông đã xây dựng Tượng đài N’Trang Lơng tại Gia Nghĩa và phục dựng các di tích tại Đắk R’Tih, Đắk Buk So (huyện Tuy Đức) nhằm ghi nhớ công lao của vị tù trưởng anh hùng.
Từ đại ngàn Nâm Nung đến núi Bà Rá, từ Bu Poustra đến đồn Gatille, dấu chân của N’Trang Lơng vẫn còn in đậm trong ký ức lịch sử. Ông không chỉ là một thủ lĩnh nghĩa quân, mà đã trở thành huyền thoại của núi rừng Tây Nguyên – biểu tượng bất diệt của lòng yêu nước và khát vọng tự do.



