Khác

Tư tưởng chủ động chiến lược, đánh trước để chế ngự giặc

Đánh trước để chặn mũi nhọn của địch, đó là nội dung của chiến lược "tiên phát chế nhân" được vận dụng trong chống giặc ở thời Lý. Xét từ mục đích, thực chất "tiên phát chế nhân" cũng là một hoạt động quân sự nhằm chủ động chiến lược, tích cực và quyết tâm đánh sập mũi nhọn của địch, giành thế chủ động trong chiến đấu chống giặc. Như đã biết, tư tưởng phòng vệ tích cực là một trong những tư tưởng đã xuất hiện và bao quát mọi lĩnh vực quân sự, chính trị hồi thế kỷ X. Điều khác biệt là ở hình thứ

29/03/2026Ban Biên tập tổng hợp2 lượt xem0 lượt chia sẻ
Thời Ngô, Đinh, Tiền Lê cũng như thời Lý và sau này nữa, trong chống giặc giữ nước, vấn đề cảnh giác đề phòng, tư tưởng phòng vệ bao giờ cũng đi trước một bước. Phòng vệ tốt, có hiệu lực, sẽ bảo đảm chiến đấu thắng lợi. Lịch sử dựng nước và giữ nước hồi thế kỷ X đã chứng minh điều đó. Vào thời Lý, từ khi dời đô ra Thăng Long, đất nước đã vượt qua thời non trẻ với quốc gia Đại Cồ Việt. Từ Lý Thái Tổ, tiếp đến các vua Lý Thái Tông, Lý Thánh Tông, quốc gia Đại Việt (đổi tên từ năm đầu đời Lý Thánh Tông, 1054) đã trưởng thành vượt bậc về mọi mặt. Riêng trong hoạt động quân sự, cũng "phá Tống bình Chiêm", nhưng so với thời Tiền Lê, thời Lý quy mô rộng lớn hơn, chiến thuật, chiến lược sắc bén, quyết liệt hơn hồi thế kỷ X. Trong bối cảnh lịch sử đó, chiến lược "tiên phát chế nhân", đánh phá giặc trên đất giặc xuất hiện. Đối thủ - kẻ thù xâm lược cũng không xa lạ, đó là nhà Tống.


Cũng như cuộc xâm lược lần thứ nhất vào cuối năm 980 đầu năm 981 thời Tiền Lê, lần này nhà Tống cũng chủ động phát động chiến tranh xâm lược quốc gia Đại Việt. Và thời cơ xâm lược cũng là lúc nội bộ vương triều Lý có sự bất hòa kéo dài xuất phát từ sự ganh ghen giữa Hoàng hậu Thượng Dương - hoàng hậu của Lý Thánh Tông và Nguyên phi Ỷ Lan - mẹ đẻ của Thái tử Càn Đức, tức Vua Lê Nhân Tông lên ngôi vào năm 1072, mới 6 tuổi. Có thể nghĩ rằng cuộc xâm lược của nhà Tống dưới thời Tống Thần Tông (1068-1085), nhằm trả thù cho thất bại lần trước. Nếu có cũng chỉ là cái cớ, còn nguyên nhân sâu xa hơn lại xuất phát từ bên trong nội tình của nhà Tống.


Vào lúc phát động cuộc chiến tranh xâm lược, nhà Tống đã và đang phải đối diện với những khó khăn không dễ giải quyết. Đó là mối hiểm họa Liêu - Hạ ở phía Bắc và mâu thuẫn giữa Tể tướng Vương An Thạch và "tân pháp" của ông ta với đám đại thần thủ cựu cùng các tầng lớp nhân dân bất bình, vì chính sách bóc lột hà khắc của quan liêu, đại địa chủ đã phản ứng chống lại. Liêu - Hạ là hai nước ở phía Bắc thường xuyên tràn sang đánh phá, gây cho Trung Quốc nhiều tổn thất. Từ khi nắm quyền quản lý đất nước (960), nhà Tống đã phải chinh chiến liên miên, nhượng bộ nhiều lần mà vẫn không khuất phục được Liêu - Hạ, khiến cho kinh tế kiệt quệ, đời sống nhân dân lầm than, điêu đứng. Nhiều cuộc khởi nghĩa đã bùng nổ. Để cứu vãn tình thế, Tể tướng Vương An Thạch đề ra "tân pháp" không được lòng người, dẫn đến mâu thuẫn giữa nhà nước và nhân dân ngày thêm trầm trọng. Nhằm chĩa mũi nhọn mâu thuẫn ra ngoài, đồng thời để ra uy với Liêu - Hạ, Tống Thần Tông chủ trương đánh Đại Việt, mở rộng lãnh thổ về phía Nam. Mục đích cuộc xâm lược lần này của nhà Tống là đánh lấy hẳn Đại Việt, sáp nhập vào bản đồ của họ. Ngay từ đầu, khi cử Quách Quỳ làm tướng, Tống Thần Tông đã hạ chiếu dặn: "Sau khi bình được Giao Châu, sẽ đặt châu huyện như nội địa"1 (Dẫn theo Hoàng Xuân Hãn: Lý Thường Kiệt, Nxb. Văn học, Hà Nội, 1994, tr.158). Nhà Tống định lấy đó làm thắng khí để uy hiếp Liêu - Hạ.


Từ những năm đầu thập kỷ 70 của thế kỷ XI, nhà Tống đã có hành động chuẩn bị xâm lược ngày càng khẩn trương hơn. Hàng loạt căn cứ quân sự và hậu cần ở vùng giáp biên giới được xây dựng. Thành Ung Châu (Nam Ninh - Quảng Tây) với vị trí quan trọng trên bờ sông Uất Giang trở thành nơi tập kết quân lính, căn cứ hậu cần của giặc Tống. Tại đây tập trung 5.000 quân chính quy do viên tướng có nhiều kinh nghiệm, già dặn chiến trường là Tô Giám coi giữ. Quân lính Tống ở Ung Châu gồm hai bộ phận: 2.000 quân giữ thành và 3.000 quân chia nhau đóng giữ ở 5 trại quân sát biên giới là Thiên Long, Cổ Vạn, Vĩnh Bình, Thái Bình và Hoành Sơn. Ngoài số quân chính quy, nhà Tống còn huy động quân của các châu, động tham gia canh phòng và sẵn sàng xâm lược. Vào các năm 1074-1075, căn cứ Ung Châu và các trại quân Tống kề biên giới như những mũi dao nhọn sẵn sàng thọc vào sườn Đại Việt.


Âm mưu xâm lược cùng hành động chuẩn bị quân lương của nhà Tống, bằng nhiều con đường - đã đến tai triều đình Thăng Long. Trước tình hình đó, Lý Thường Kiệt tâu với vua: "Ngồi đợi kẻ địch đến, không bằng đánh trước để bẻ gãy mũi nhọn của nó"1 (Việt điện U linh, Nxb. Văn học, Hà Nội, 1972, tr.58). Nhà quân sự Lý Thường Kiệt là người đề xuất, đồng thời cũng là ngươi thực hiện tư tưởng chiến lược "tiên phát chế nhân".


Khi đề xuất tư tưởng chiến lược táo bạo này, Lý Thường Kiệt đã nắm chắc tình hình của địch và đặt niềm tin vào sức mạnh của quân dân Đại Việt, đảm bảo thắng lợi tuyệt đối. Xét về tương quan lực lượng, Tống bao giờ cũng là nước lớn, quân đông, tiềm năng dồi dào trong khi đó Đại Việt là nước nhỏ, sức người và của có giới hạn.


Mặc dù vậy, khối đoàn kết dân tộc đã được củng cố, bộ máy nhà nước vững chắc, lực lượng vũ trang, quốc phòng qua các thời Lý Thái Tổ, Lý Thái Tông, Lý Thánh Tông đã được xây dựng mạnh mẽ, là cơ sở để cho Lý Thường Kiệt đặt niềm tin vào sức mình. Trong chiến lược tấn công bất ngờ vào căn cứ hậu cần của nhà Tống, Lý Thường Kiệt không chỉ dùng sức mạnh của quân đội. Ông kết hợp giữa vũ lực với thu phục lòng người. Tinh thần này được thể hiện trong bài Phạt Tống lộ bố văn.

Toàn văn bài này như sau:

"Trời sinh ra dân chúng, vua có đức thì tin yêu. Đạo làm chủ cốt ở muôn dân. Nay nghe biết vua Tống ngu hèn không theo khuôn phép thánh nhân, nghe các kế tham tàn của An Thạch bày ra phép "thanh miêu", "trợ dịch", khiến trăm họ hao kiệt, lầm than, để thỏa cái mưu nuôi béo lấy thân mình.

Số là muôn dân đều dựa vào trời bỗng sa vào sự độc hại của thói tham lợi. Bề trên cố nhiên phải thương xót. Những việc từ trước thôi không nói làm gì.

Bản chức vâng mệnh quốc vương, chỉ đường Bắc tiến, muốn dẹp làn sóng yêu nghiệt, chỉ có cái ý phân biệt quốc thổ, chứ không phân biệt chúng dân. Phải quét sạch cái bẩn thỉu hôi tanh để ca thuở đẹp của ngày Nghiêu, để hưởng hội lành của tháng Thuấn.

Nay ta ra quân cốt cứu vớt muôn dân. Hịch văn truyền đến để mọi người đều nghe. Ai nấy hãy tự đắn đo, chớ có mang lòng sợ hãi"
1 (Bản dịch của Trần Văn Giáp: Tuyển tập văn học Việt Nam, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1980, t.I, tr.307).

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn