Tư tưởng chủ động phòng vệ đất nước
Như đã trình bày ở trên, thế kỷ X trải qua các vương triều Ngô, Đinh, Tiền Lê là thế kỷ của đấu tranh bảo vệ nền độc lập, thống nhất, song song với nhiệm vụ phục hưng xây dựng đất nước vừa mới giành lại được quyền tự chủ. Để thực hiện hai nhiệm vụ trọng đại này, vấn đề cơ bản là phải xây dựng cho được một nhà nước quân chủ tập quyền vững, có hiệu lực và một tổ chức quân đội quốc gia thống nhất, hùng mạnh. Lịch sử đã chứng minh quân dân nước Đại Cồ Việt hồi thế kỷ X dưới sự điều hành của các nhà
| Từ một cái nhìn tổng quan trên lĩnh vực quân sự trong tình hình xã hội có nhiều biến động, trong bối cảnh nguy cơ xâm lược như thanh gươm treo lơ lửng trên đầu quốc gia Đại Cồ Việt còn non trẻ, phòng vệ hay phòng ngự tích cực đã được đặt ra trong tư tưởng các nhà quân sự thời này. Không phòng vệ sao được, khi âm mưu tái lập nền đô hộ trên đất nước ta chưa bao giờ được từ bỏ đối với bọn phong kiến phương Bắc. Cuộc xâm lược của Nam Hán vào các năm 930-931, 938, của nhà Tống vào cuối năm 980, đầu năm 981 là bằng chứng rõ rệt. Không phòng vệ sạo được, khi xu hướng phân tán tồn tại trên cơ sở hiện diện phổ biến của công xã nông thôn sẵn sàng xuất hiện mỗi dịp có cơ hội thuận lợi, khi nhà nước quân chủ tập quyền suy yếu. "Loạn mười hai sứ quân" trước sự suy sụp của vương triều Ngô là bằng chứng. Tuy không trầm trọng nhưng những bất hòa, chia rẽ trong nội bộ vương triều Đinh, khi triều đình Hoa Lư gặp biến, cũng dễ trở thành phân tán, loạn lạc nếu không kịp thời dập tắt. Mặt khác, nước Đại Cồ Việt thế kỷ X phải đối diện với một thực tế: tất cả chỉ mới là bước đầu, đang trên đường phục hưng, mò mẫm tập dượt xây dựng. Nhà nước quân chủ cũng từng bước từ vương quyền đến đế quyền, từ một mô hình quản lý của chính quyền Tiết độ sứ đến một nhà nước quân chủ tập quyền có hệ thống từ triều đình trung ương đến công xã nông thôn biến thành cơ sở hương, giáp, xã nằm trong hệ thống quản lý của nhà nước. Về quân đội cũng từ quân bản bộ đến đoàn "quân mới họp", từ "quân 10 đạo" đến quân đội quốc gia gồm một hệ thống từ quân của triều đình ở kinh đô, quân các châu, lộ, phủ, và dân binh. Quá trình phát triển, trưởng thành này đã diễn ra trong gần một thế kỷ. Có thể nói, không phải từ đầu, mà cho đến vương triều Tiền Lê, nhà nước quân chủ chưa đủ vững, tổ chức quân đội chưa đủ mạnh để có thể lơ là hoặc không đặt vấn đề phòng vệ lên hàng đầu. Trong tình hình đó, tư tưởng phòng vệ hoặc phòng ngự tích cực đã xuất hiện trong lĩnh vực quân sự và đã tỏ ra hoàn toàn đúng đắn. Dưới sự hướng dẫn của tư tưởng phòng ngự tích cực, quân dân Đại Cồ Việt đã vượt qua được mọi thử thách, đã đẩy lùi được mọi cuộc xâm lược, đặc biệt là cuộc xâm lược của giặc Tống. Tư tưởng phòng vệ tích cực không chỉ riêng ở lĩnh vực quân sự. Nó quán xuyến, bao trùm trên mọi hoạt động thế kỷ X cũng như tư tưởng độc lập, tự chủ, thống nhất tập quyền và được thể hiện rõ nhất trong lĩnh vực chính trị và quân sự. Ở lĩnh vực chính trị, trước hết là vấn đề định đô. Hoàn toàn không phải không có lý do, hoặc theo ý muốn chủ quan của mình mà Ngô Quyền, Đinh Tiên Hoàng lại chọn Cổ Loa, tiếp đến Hoa Lư làm kinh đô. Không phải đến thời Lý mới biết Đại La là một trung tâm lớn, không chỉ là lỵ sở của Giao Châu xưa mà còn là nơi đô hội trù phú. Ngay từ đầu thế kỷ X, Khúc Thừa Dụ, Dương Đình Nghệ sau khi giành được quyển tự chủ đã tiếp quản Đại La, lợi dụng cơ sở cũ của thủ phủ Giao Châu làm lỵ sở của chính quyền mới được xây dựng theo mô hình quản lý Tiết độ sứ của nhà Đường cắt đặt. Nhưng không bao lâu, Đại La dưới quyền họ Khúc lại rơi vào tay người Nam Hán khiến Dương Đình Nghệ phải chiếm lại. Đại La là mục tiêu đầu tiên dòm ngó trong con mắt của mọi kẻ xâm lược phương Bắc. Đại La ở vào thế trung tâm, giao thông rất thuận tiện, nhưng không phải không có điểm yếu. Đó là tình trạng úng ngập vào mùa lũ lụt. Cũng chính để khắc phục tình trạng này nên vào năm 866, Tiết độ sứ Cao Biền, trong khi đắp La Thành đã phải "Lại đắp con đê vòng quanh dài 2.125 trượng 8 thước; cao 1 trượng 5 thước; chân rộng 2 trượng"1 (Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.I, tr.199). Đây là một điểm yếu về mặt địa hình, nhưng chưa phải là điều quan trọng. Điều quan trọng hơn là địa thế trống trải và tình trạng phức tạp của xã hội ở Đại La. Về địa thế trống trải của Đại La, sử gia Đặng Xuân Bảng ở thế kỷ XIX đã từng nhận định: "Đất này lại là nơi đồng bằng nội rộng, không có cái thế hiểm trở, núi cao, sông to, nếu thế ngoài ngẫu nhiên không được vững, thì kẻ địch thừa thắng tiến vào không đầy năm, sáu ngày đã đến thẳng được thành, trong thành lại không có viện binh, tiến không được, lui không giữ được, tất phải ngồi mà chịu chết"1 (Đặng Xuân Bảng: Sử học bị khảo, Nxb. Văn hóa-Thông tin, Hà Nội, 1997, tr.286). Địa thế trống trải lại liền kề sông Cái là tuyến giao thông thủy nối với cửa ngõ tây bắc, bắc và đông bắc của đất nước. Bằng đường thủy, quân địch từ phía đông bắc theo đường tiến quân quen thuộc có thể vào Đại La rất thuận tiện. Một khi bị tấn công thì Đại La khó bề chống giữ. Lịch sử chống xâm lược ở các thế kỷ sau như chống giặc Mông - Nguyên lần thứ nhất, thứ hai đã chứng minh rõ. Nhà Trần không giữ nổi Thăng Long, phải thực hiện rút lui chiến lược, tạm thời bỏ Thăng Long, rút sâu về hậu phương củng cố lực lượng, sau đó quay trở lại tấn công diệt đuổi giặc. Thời Lý trong chống giặc Tống lần thứ hai đã chặn phá giặc từ sông Như Nguyệt, không cho chúng tiến vào Thăng Long. Đó là thế kỷ XI (1076) và thế kỷ XIII (1258, 1285), khi mà quốc gia Đại Việt đã bước vào thời thịnh vượng, có quân hùng tướng mạnh với vương triều Lý - Trần. Trong khi đó, ở thế kỷ X, nước Đại Cồ Việt còn non trẻ, thế và lực chưa đủ mạnh để có thể đương đầu với giặc để giữ được Đại La. Một khi kinh đô ở Đại La bị mất là đất nước bị đặt trong hoàn cảnh cực kỳ khó khăn, có thể mọi việc phải làm lại từ đầu. Đó là lý do quan trọng để Ngô Quyền, Đinh Tiên Hoàng né tránh Đại La. |



